Thương dân, dân sẽ phụng thờ

Thứ hai - 12/09/2016 12:06

Cái ngày ấy có hàng trăm, hàng ngàn cán bộ, bộ đội cứu dân, những tấm gương hy sinh đóng góp ở đây là có thật. Thật như bất cứ chiến công nào. Gần mười huyện thị, hàng triệu dân với bao nhiêu tài sản nhà máy ruộng đồng có thể bị nước cuốn trôi trong phút chốc, sự an nguy trong gang tấc. Vẫn là nhân dân, vẫn là cán bộ, vẫn những con người này, họ là cán bộ cơ sở là huyện là tỉnh bám chặt lấy dân. Vẫn là Cửu, là Tài, là Lê, là Trực, là Hiền, là Nhân, là Thuật, là Trung, là Vừng…Trên nữa là Quất, là Lân, là Dương…nghĩa là toàn thể bộ máy được huy động hết. Dốc toàn lực trị thủy. Xưa nay “thủy hỏa đạo tặc”, thủy là giặc cái đứng đầu tai nạn. Xa xưa ông Cổn, ông Vũ có công trị thủy thành công được nhân dân tôn xưng làm vua. Các anh chẳng lên quan lên vua vẫn là dân. Anh Chính làm vườn, anh Thể làm ruộng. Anh Tý người hăng hái trong mưa bão quên cả ăn băng qua nước lũ. Người, chạy chỗ này chỗ khác rồi hò hét, thậm chí mắng chửi: “Tiên sư chúng mày, không nhanh tay lên vỡ đê chết cả nút”. Đám thanh niên vẫn nói cười bi bô không biết sợ. Bí thư chi đoàn đú đởn còn gọi Chủ tịch huyện: “Ông Chủ tịch ơi! Bà nào giấu quần của ông rồi”. Chả là Tý mải mê với công việc, vắt quần lên cổ lội xuống nước. Khi có lệnh hội ý lãnh đạo mới cuống cuồng đi tìm quần. Gặp ai cũng hỏi: “Có thấy quần tớ đâu không?” Đám thanh niên bịt miệng cười: “Quần bà cháu để trong buồng, ông về mà hỏi”. Ông Chủ tịch hớt hải: “Các cậu đừng có đùa dai, tao còn phải đi họp”. Đi họp mặc quần đùi cũng được - Đám thanh niên vẫn đùa.

 

ảnh minh họa. Nguồn Internet

 

Ông tức phát điên lên vì cánh trẻ vẫn trêu. Phải đến lúc bà Hội trưởng Phụ nữ bịt miệng cười và chỉ lên cổ, Tý mới nhớ ra. Mặt đỏ bừng vì thẹn bèn chạy ra bụi cây mặc quần vào. Người lính tiên phong ấy sáu hai tuổi mới về hưu. Thời buổi giao thông đến đâu văn minh đến đấy. Mọi người thi nhau bươn ra mặt đường kiếm tí đất mặt phố để buôn bán. Có chức có quyền như ông nói đâu chả được mảnh đất mặt phố. Không, ông lại về xóm nhỏ góc đồi của mình trồng cây, thả gà.

Ngày ấy tin dữ về tình hình nguy cấp tại đê Nội Doi trên sông Đuống đưa về Bộ Thủy lợi, lãnh đạo họp cấp tốc rồi cử Trần Nhơn đi cấp cứu về báo cáo để Bộ có phương án. Nhơn là một cán bộ tháo vát năng nổ nhưng khi anh ra đi vợ đang âm ỉ chuẩn bị  “vỡ chum”. Anh phải nhờ mẹ vợ và mấy đứa em đến chăm nom rồi lên xe. Đi dọc những dòng sông xứ Bắc, Nhị Hà, sông Đuống, sông Cầu, sông Thương, những dòng sông chảy vào thi ca mang bao thương nhớ đầy thơ mộng. Những kiếp người chồm lên như những con ngựa hoang trong mùa mưa bão. Con sông Đuống không nằm nghiêng nghiêng mà dựng đứng lên trút nước vào vùng Bắc Đuống trắng loạng. Bây giờ đến con sông Cầu đang dồn từ thượng lưu Bắc Thái về hàng chục triệu mét khối nước xối xả đập vào mái đê. Mặt đê bốn năm mét đã sụt đã vỡ gần hết, chỉ còn một phần ba thân đê mỏng manh che chắn… Tất cả vật liệu gỗ rơm đất đá rong rào, rồi thuyền, rồi xe sà lan dồn vào hàn khẩu. Sức người sức của dồn cho chiến tuyến. Tất cả cho hàn khẩu dựng kè như một trận đánh. Lòng cống dòng sông như con thuồng luồng khổng lồ, bao nhiêu vật liệu đổ xuống bị nuốt chửng. Trời mưa nước to, bao nhiêu nước xả vào đê. Đất lở từng mảng ầm ầm ào ào nghe cũng đủ kinh sợ… Khủng khiếp hơn là tiếng trống thúc, tiếng người la hét, tiếng người lớn kêu, trẻ con khóc. Đê sắp ục, sắp vỡ, dân nhốn nháo, nhiều người xuôi tay ôm ngực rời bỏ con đê định quay về cứu lấy vợ con, thóc lúa lợn gà…

  Đúng lúc vô kế khả thi, tỉnh huyện bó tay thì Trần Nhơn chân ướt chân ráo nhảy vào cuộc. Không đợi lệnh của Bộ trưởng, tướng ngoài biên ải có toàn quyền định đoạt. Anh nghĩ ngay ra phương án xử lý, đánh xe lên Tam Tầng, giao cho Trần Phúc, Phó Giám đốc Công ty Xây dựng Thủy lợi 1, cho triển khai gia công gấp hai mươi tấm phên sắt 2mx4m, “phi” 12mm, mắt cáo 15x15cm, xong lúc nào chở ngay xuống công trường lúc ấy. Để có hệ số an toàn cao, đề phòng mọi bất trắc, anh gọi điện giao nhiệm vụ khẩn cấp tương tự cho hai cơ sở khác của Bộ Thủy lợi là nhà máy Cơ khí Văn Điển và nhà máy Cơ khí 250 ở thị trấn Và. Hôm đó là ngày chủ nhật, nhưng lệnh của Thứ trưởng Trần Nhơn ban ra lúc xế trưa, thì gần 8 giờ tối, 60 tấm phên sắt đã lần lượt chở đến công trường. Nhà máy 250 nhận lệnh qua điện thoại lúc hai giờ chiều nhưng đã chở hàng đến trước tiên. Năm thanh niên áp tải theo xe, khẩn trương bốc dỡ các tấm phên sắt thả xuống đúng vào vị trí chặn ngang dòng nước hung dữ đang ầm ào chảy luồn qua đê tuôn nước vào đồng. Đầu dưới tấm phên sắt cắm vào hố xoáy, đầu trên tựa vào thanh ray đặt trên mặt đê. Mươi lăm phút sau xe của Công ty Xây dựng Thủy lợi 1, và vài chục phút sau nữa, xe của nhà máy Cơ khí Văn Điển cũng kịp chở hàng đến nơi. Trần Nhơn đứng trên con thuyền không buồm chỉ huy như một vị Tư lệnh. Đôi tay, cái miệng thay cho cờ, súng dẫn dắt các đơn vị vào vị trí chiến đấu. Sáu mươi tấm phên sắt đồng loạt chắn ngang “cửa khẩu”. Những tấm phên sắt như những khúc xương khổng lồ chẹn ngang họng con thuồng luồng làm nó tắc nghẹn, khạc không xong nuốt không trôi. Rồi những bó rơm, đá hộc và bao tải đất tới tấp dồn xuống hố nước xoáy. Các tấm phên sắt có được điểm tựa ổn định. Mắt cáo 15x15cm giữ cho bó rơm, đá hộc, bao tải không thể cuốn trôi theo dòng nước xoáy, dồn ứ lại thành con đê đất đá hỗn hợp chặn đứng dòng nước quái ác, hung dữ. “Bộ Tư lệnh” hân hoan chúc mừng chiến công Nội Doi - Quế Võ, chiến công vô tiền khoáng hậu Trần Nhơn! Trần Nhơn chia sẻ: “Rất may là nền đê đoạn Nội Doi rất tốt, thân đê có thể đã được đắp bằng thứ đất sét đang dùng để nung gạch ở các lò gạch ngoài bãi sông kia, nên tốc độ thủy phá thổ diễn ra rất chậm. Nếu là đất thịt pha cát thì đê đã vỡ từ 4 - 5 giờ chiều hôm qua rồi. Tám giờ tối, mấy chục tấm phên sắt mới được chuyển tới công trường, đâu còn có tác dụng gì nữa! Thật là quá may mắn”!

Đúng lúc tập thể, cán bộ nhân dân vui mừng. Niềm vui của hàng triệu người của cả tỉnh cả huyện thì nỗi đau dồn về Trần Nhơn. Ông Chủ tịch huyện thập thò không nỡ báo cái tin dữ, vì còn thương Nhơn đang run rẩy do nước ngấm vào người lại nhịn đói cả đêm. Chỉ đến khi Tý ngẩng lên, Nhơn mới hỏi: “Có chuyện gì thế ông?”. Chủ tịch huyện ríu cả lưỡi: “Thằng cháu ở nhà đã mất, chị vừa được cấp cứu…”. Đang đứng, Nhơn bỗng ngồi thụp xuống lảo đảo chực ngã, không hiểu vì thấm đẫm nước lạnh vì đói bụng hay vì cái tin sét đánh. Nhơn ngã vào tay Tý run lên. Cả bộ Tư lệnh công trường xúm lại an ủi động viên… “Công việc tạm ổn hay anh để chúng tôi lo, anh qua nhà thăm chị”… Sau vài phút ổn định, Nhơn lắc đầu: “Thôi đằng nào cháu cũng mất rồi, còn nhà tôi đã có bà ngoại và các em, tôi phải ở lại đây để cùng các đồng chí theo dõi, xử lý mọi bất trắc có thể nảy sinh, và tiếp tục củng cố những chỗ xung yếu. Tình hình mới tạm ổn, chưa thể yên tâm, chủ quan, thỏa mãn”. Nguyễn Sỹ Hùng thợ hàn có tay nghề cao đã nói: “Không có bác Nhơn chúng cháu không yên tâm. Có anh em đã rời bỏ trận địa”.

Về Nội Doi, bà con còn ngơ ngác thất thần qua cơn hoạn nạn. Bà con kẻ đứng, người ngồi, hàn huyên, bàn tán, nhắc đến chiến công Trần Nhơn - kỳ tích Nội Doi.

Người ta sinh ra ở đời cần phải có sự nghiệp, cống hiến cho dân cho nước, sau mới đến chức tước, tiền của và hạnh phúc gia đình. Trên hành trình ấy bao người đã thành đạt và cũng thất bại. Có người có chức tước tiền bạc nhưng không để lại một dấu ấn gì với dân với nước. Trần Nhơn khác hẳn, anh khẳng định mình bằng những cống hiến cho dân cho nước. Dân muốn lập đền thờ. Đảng ghi công anh bằng những đánh giá bằng những huân chương có tên không tên. Gần bốn mươi năm say sưa cống hiến sáng tạo khoa học kỹ thuật và xây dựng chính sách về thủy nông, thủy lợi, anh trở thành một chuyên gia hàng đầu của ngành. Tên Trần Nhơn gắn với sự nghiệp không thể tách rời “Trần Nhơn thủy lợi”. Nói đến thủy lợi không thể không nhắc đến Trần Nhơn. Anh là một trong số cán bộ thủy lợi đầu đàn trưởng thành từ sau ngày hòa bình lập lại 1954 trên miền Bắc. Trải qua nhiều năm tháng về đồng bằng lên miền núi, xuống biển lên rừng… Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hòa Bình, Đác Lăk, từđịa phương lên trung ương, vào địa phương lại ra trung ương… Ở đâu, làm công việc gì, khảo sát thiết kế hay thi công, cũng năng nổ, miệt mài, cần cù sáng tạo. Chiến công lớn nhất là cứu đê Nội Doi - Quế Võ. Đồng chí Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Bộ trưởng Võ Chí Công về kiểm tra tình hình xử lý sự cố cống Nội Doi năm ấy, thay mặt Đảng, Chính phủ, giao nhiệm vụ cho công trường, và truyền đạt ý kiến của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh đang thăm Liên Xô điện về: “Phải ra sức phấn đấu khắc phục sự cố Nội Doi, cứu đê Nội Doi khỏi vỡ bằng mọi giá!”. Phó Chủ tịch Quốc hội (nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Bắc) Mai Thúc Lân đã đánh giá: “Việc cứu đê Nội Doi được coi là một thành tích lớn của các lực lượng tham gia chống lụt ở tỉnh lúc đó, trong đó có sự đóng góp xuất sắc về phương án kỹ thuật của đồng chí Trần Nhơn”. Bí thư tỉnh ủy Hà Bắc Nguyễn Thanh Quất đề xuất ý kiến: “Đồng chí Trần Nhơn đã đề ra phương án kỹ thuật chính xác, có tính quyết định cứu đê Nội Doi khỏi vỡ. Đề nghị Đảng và Nhà nước xét khen thưởng xứng đáng cho đồng chí Trần Nhơn về thành tích xuất sắc và công lao to lớn này”. Còn nhiều lắm ý kiến nói về Trần Nhơn, đánh giá công lao của Trần Nhơn. Phó Chủ tịch Quốc hội, trung tướng Nguyễn Phúc Thanh, lúc cứu đê Nội Doi là Tham mưu trưởng Quân đoàn Hai, trực chiến 24/24 tại công trường. Bí thư và Chủ tịch Quế Võ Nguyễn Văn Chính, Tạ Văn Tý… Giám đốc Sở Thủy lợi Hà Bắc Tống Văn Xương và các Phó Giám đốc Nguyễn Ngọc Điệp, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Thục. Thục sau này là Giám đốc Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn Bắc Ninh... Những con người sát cánh với Trần Nhơn, giãi nắng dầm mưa, quên ăn quên ngủ trên công trường hàn khẩu đê Nội Doi năm ấy. Tất cả đều ghi công và mến phục đức độ Trần Nhơn.

Sau sự cố Nội Doi, Thứ trưởng Trần Nhơn bàn với lãnh đạo tỉnh Hà Bắc cho khảo sát và giúp huyện Quế Võ xây dựng mới trạm bơm Thái Hòa công suất 20 ngàn mét khối/giờ, giải quyết tiêu úng và lấy nước phù sa sông Đuống tưới cho đồng ruộng Quế Võ. Bộ Thủy lợi cũng hỗ trợ 400 triệu đồng khôi phục trạm bơm Phả Lại, cũng với công suất 20 ngàn mét khối/giờ, bảo đảm tưới cho ba xã Châu Phong, Đức Long và Phù Lãng sản xuất ăn chắc vụ đông xuân và tưới hỗ trợ cho vụ mùa. Tạ Văn Tý nói: “Nhờ có sự giúp đỡ tích cực và đôn đốc trực tiếp của Thứ trưởng Trần Nhơn trong việc thúc đẩy tiến độ hai công trình trạm bơm sau sự cố Nội Doi, kinh tế huyện Quế Võ đã có bước phát triển đột biến, phát triển mạnh. Tổng sản lượng lương thực của huyện năm 1987 là 40 ngàn tấn, năm 1988 đã đạt 50 ngàn tấn, tăng 25 phần trăm. Đời sống bà con nông dân lên cao rõ rệt. Có người nói: Nếu dân Quế Võ lập miếu thờ các vị có công với dân thì chắc chắn phải có tên bác Trần Nhơn”.

Trần Nhơn còn nhiếu đóng góp lớn cho những dự án quốc kế dân sinh như “Làm thủy lợi, làm hồ chứa trên đất ba zan và dùng đất ba zan để đắp đập”. Công trình sáng tạo này đã tạo bước ngoặt phát triển cho nông nghiệp Tây nguyên.

Khi Nhà nước triển khai xây dựng thủy điện Sơn La, Trần Nhơn cũng đã có đóng góp xuất sắc. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã xác nhận: “Đồng chí Trần Nhơn, tiến sỹ kinh tế, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi, là một chủ công trong Hội Thủy lợi đã có công đóng góp lớn với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội trong việc lựa chọn phương án Sơn La thấp được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa XI”.

Trần Nhơn còn đóng góp ý kiến quan trọng vào “Kinh tế nước và Phát triển Thủy lợi bền vững ở Việt Nam”. Anh là một trong những người đầu tiên đưa ra luận điểm mới về “sản phẩm nước (nước sau công trình) là hàng hóa” với đầy đủ hai thuộc tính là có “giá trị” và “giá trị sử dụng”, với mười đặc điểm và mười hệ quả sắc nét (tháng 6/1991). Xuất phát từ luận điểm đó, đã đề xuất “cơ chế tài chính lành mạnh, minh bạch”, gắn với chính sách “thủy lợi phí” khoa học, áp dụng “giá dịch vụ thủy lợi hợp lý”, khả thi để ngành dịch vụ nước tự chủ tài chính, phát triển bền vững. Những luận điểm này cũng trùng hợp với Tuyên bố Dublin (tháng 1/1992) “Nước có giá trị kinh tế trong mọi dạng sử dụng cạnh tranh và cần phải được coi là một loại hàng hóa kinh tế”. Về “cơ chế tài chính lành mạnh, minh bạch” gắn với chính sách Thủy lợi phí đã được Vụ Quản lý khai thác công trình thủy lợi ứng dụng để phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Tài chính xây dựng Thông tư liên tịch số 90/1997/TTLT-TC-NN ngày 19/12/1997. Luận điểm sản phẩm nước là hàng hóa, giá nước phải được tính đúng tính đủ theo cơ chế thị trường, xóa bỏ bao cấp tràn lan; cần phải xây dựng và phát triển nền kinh tế nước nhiều thành phần, phát huy nội lực và tạo động lực phát triển bền vững… đã được Bộ trưởng Tài nguyên - Môi trường Mai Ái Trực tiếp thu, đưa vào dự thảo Chiến lược quốc gia về Tài nguyên nước đến năm 2020, và được Thủ tướng Phan Văn Khải phê duyệt tại Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg, ngày 14 tháng 4 năm 2006.

Ngoài ra anh còn nhiều đóng góp hữu ích cho đời sống đã thực hiện và đang phát huy tác dụng, ví dụ phương án chỉnh trang đê Nhật Tân - Yên Phụ vừa củng cố đê mùa mưa vừa là đường giao thông của Hà Nội. Đó là ý tưởng độc đáo đã được vận dụng một phần trên tuyến đê hữu Hồng - Hà Nội. Nói “vận dụng một phần” là vì chỉ áp dụng “phần kỹ thuật”. Còn “phần kinh tế” tương kế tựu kế “lấy mỡ nó rán nó”, nhưng vẫn bảo đảm kỷ cương phép nước, đã không được áp dụng để tăng nguồn thu cho ngân sách và giảm thiểu số nhà phải phá dỡ hoặc bị “vạt mặt”. Chuyên viên Nguyễn Thế Bình, Vụ Kế hoạch Bộ Thủy lợi, căn cứ vào biểu giá đất được công bố lúc đó của Hà Nội, đã tính toán, nếu thực hiện theo phương án đề xuất của Trần Nhơn trên toàn tuyến đê Hà Nội, sẽ thu về cho ngân sách 3500 tỷ đồng. Nhưng người cầm quyền lúc đó đã không quan tâm đến phương án khả thi tạo nguồn thu ngân sách, lại sử dụng 91 tỷ đồng trong gói vốn vay 700 tỷ từ Dự án ADB 1 “Khôi phục Thủy lợi và chống lũ” (1993 - 2001) để chỉnh trang 6,7 km đê hữu Hồng từ An Dương đến Vĩnh Tuy - Hà Nội.

Trần Nhơn, một Thứ trưởng, đi lên từ chân đất, nghiên cứu học hỏi không ngừng, với nhiều suy nghĩ  sáng tạo, gắn lý luận với thực tiễn, đã cứu dân, giúp nước, một cán bộ của dân vì dân được dân yêu dân mến, dân muốn lập đền thờ.

Làm thủy lợi trên đất ba zan ở Tây nguyên; chiến công cứu đê Nội Doi ở Quế Võ - Hà Bắc; hàng hóa nước, kinh tế nước và phát triển thủy lợi bền vững…và biết bao việc làm sáng danh Đảng. Huân huy chương bảng vàng đã có hoặc chưa có còn ghi mãi ơn anh, công anh. Một con người hết lòng vì mọi người, chan hòa bình dị, bao dung, có ích cho dân cho nước. Trần Nhơn thật xứng đáng để người dân tôn vinh “Thương dân, dân lập đền thờ”.

Một nhân cách khác của Trần Nhơn mà ít người biết đến. Anh còn là một nghệ sĩ mỗi khi cảm xúc thăng hoa. Nhờ những rung động thật từ trái tim, anh đã đến tận cùng mình và phát hiện ra mình để đến với mọi người bằng hàng chục ca khúc ít nhiều có những giai điệu thật đẹp, thật mượt và hùng tráng. Cùng với kỳ tích Nội Doi, anh có “Nhớ người Sông Cầu” ghi mãi trong lòng người đất Bắc như một khúc tân Quan họ, rồi đó một loạt bài hát đã trở thành những “bài ca đi cùng năm tháng” như “Hà Nội mến yêu”“Sông Đà mùa xuân”“Nhịp điệu Trị An”“Hát với biển quê hương”“Mùa xuân Tây nguyên”“Khúc hát tâm tình người xây dựng”“Biển gọi hè về”… đã ghi công anh với tư cách nghệ sĩ nếu quên đi “một công dân vĩ đại”, một cán bộ quản lý đã tạo nhiều dấu ấn một thời.

Những ca khúc của anh chỉ như một món quà tặng thêm cho quê hương, và biết rằng chẳng bao giờ anh bằng lòng với nó, nhưng tác phẩm vẫn hiện lên đầy ắp những kỷ niệm yêu thương và những nghĩ suy trăn trở của một nhà khoa học, một cán bộ quản lý tài đức vẹn toàn, dâng trọn trí tuệ, tâm hồn cho đất nước, quê hương.

Có lẽ một tâm hồn đầy tính nhân văn ấy cũng là động cơ tạo nên những sáng tạo khoa học trong con người quản lý. Trần Nhơn thành công hơn hẳn đội ngũ cán bộ cùng thời bằng những đóng góp thực tiễn, hữu ích chứ không chỉ có chức danh. Anh nghỉ rồi, hưu rồi, nhưng dư âm kết quả công việc còn ba động trong đời sống và đóng góp cho hiện tại, tương lai. Mong sao đất nước chúng ta có nhiều cán bộ như thế!

Tác giả: Trịnh Đình Khôi - Nguồn báo Văn nghệ số 35/2016

 Từ khóa: truyền tụng, thờ cúng

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây