Góp ý sơ bộ Dự thảo Luật Thủy lợi

Thứ hai - 13/03/2017 14:57

Bản góp ý được gửi tới các cơ quan, nhà chức trách từ tháng 5/2015
   Kính gửi:
Ban Soạn thảo Luật Thủy Lợi

        Chúng tôi xin góp một số ý kiến sơ bộ bước đầu vào Dự thảo Luật Thủy lợi:
I/ Luật nên lấy tên là “Luật Đầu tư xây dựng và Khai thác Công trình Thủy lợi”.
1.1. Cho dến nay, chúng ta đã có các Luật điều chỉnh cho ngành Thủy lợi:
  •  Ngày 20/5/1998, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khóa 10 đã thông qua Luật Tài Nguyên Nước 1988, số 08/1998/QH10, gồm 10 Chương, 75 Điều, với nội dung được đề cập khá toàn diện (sau hơn mười năm chuẩn bị).
  • Luật Tài Nguyên Nước 1998 đã được thay thế bằng Luật Tài Nguyên Nước 2012:
Ngày 21/6/2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khóa 13 đã thông qua Luật Tài Nguyên Nước 2012, số 17/2012/QH13, gồm 10 Chương, 79 Điều. Dự kiến ban đầu là Luật Tài Nguyên Nước (sửa đổi) 2012, nhưng sau đó được viết lại hoàn toàn mới nên đã gọi tên là Luật Tài Nguyên Nước 2012. Luật Tài Nguyên Nước 2012 bổ sung Chương Điều tra cơ bản, Chiến lược, Quy hoạch Tài Nguyên Nước và Chương Tài chính về Tài Nguyên Nước, nhưng lại bỏ qua Chương quan trọng của Luật Tài Nguyên Nước 1998 là “Khai thác và Bảo vệ công trình Thủy Lợi” (Chương 5 của Luật Tài Nguyên Nước 1998).
1.2. Đối với các lĩnh vực chính của ngành Thủy lợi là: Đê Điều, Phòng chống Lụt bão; đầu tư xây dựng và Quản lý, Khai thác công trình Thủy Lợi, cho đến nay, đã có: Luật Đê Điều (số 79/2006/QH11, thông qua ngày 29/11/2006 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội Khóa XI) và Luật Phòng chống Thiên tai (số 33/2013/QH13, thông qua ngày 19/6/2013 tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khóa XIII) điều chỉnh lĩnh vực Quản lý Đê điều và Phòng chống Lụt bão. Còn lại các lĩnh vực Đầu tư xây dựng và Quản lý khai thác công trình Thủy lợi chưa có Luật Điều chỉnh.
Vì vậy, để khỏi trùng lắp với Luật Tài Nguyên Nước (“Tài nguyên nước” hay “Thủy lợi” dịch ra tiếng Anh cũng cùng là một từ “Water Resources”; nếu cố tình dịch “Luật Thủy lợi” là “Law of Hydraulic Engineering” cho có tên gọi tiếng Anh khác đi thì cũng chỉ là một tiểu xảo gượng ép mà thôi), và để lấp khoảng trống các phạm vi chưa có Luật điều chỉnh như nêu trên, đề nghị thay tên gọi “Luật Thủy lợi”, theo dự kiến, bằng tên gọi “Luật đầu tư xây dựng và khai thác công trình Thủy lợi”. Và do đó, Dự thảo Luật cần được triển khai soạn thảo tập trung vào nội dung đầu tư xây dựng và khai thác công trình Thủy lợi, như đúng với tên gọi mới, đáp ứng yêu cầu cuộc sống và thực tiễn quản lý của các Bộ ngành có liên quan.
1.3. Quản lý Khai thác công trình thủy lợi là một lĩnh vực công tác quan trọng, chưa có luật điều chỉnh. Điều đó đã rõ. Về lĩnh vực Đầu tư Xây dựng, dù đã có sự điều chỉnh của các Luật Đầu Tư (số 67/2014/QH13, 7 Chương, 76 Điều, thông qua ngày 26/11/2014 tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII), Luật Đầu Tư Công (số 49/2014/QH13, 6 Chương, 108 Điều, thông qua ngày 18/6/2014 tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XIII) và Luật Xây Dựng (số 50/2014/QH13, 10 Chương, 168 Điều, thông qua ngày 18/6/2014 tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa 2013), tuy nhiên, Đầu tư xây dựng thủy lợi có những đặc thù (vẫn phải tuân thủ những nguyên lý và nguyên tắc chung đã nêu trong các Luật Đầu Tư, Luật Đầu Tư Công và Luật Xây Dựng) cần được thể hiện và đưa vào các Chương, Điều tương thích trongLuât Đầu tư xây dựng và Khai thác công trình thủy lợi” đang được chuẩn bị dưới cái tên gượng ép “Luật Thủy lợi”.
GS.TS Đào Xuân Học, nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT cũng đồng ý với tên gọi đề xuất trên đây của chúng tôi.
II/ Cần đưa vào “Luật đầu tư xây dựng và khai thác công trình Thủy lợi” các quan điểm Kinh tế và Tài chính nước theo cơ chế thị trường; phải coi sản phẩm nước là hàng hóa; sớm xóa bỏ cơ chế bao cấp, thực hiện xã hội hóa các hoạt động bảo vệ, phát triển nguồn nước và cung ứng dịch vụ nước; từng bước hình thành ngành kinh tế nước nhiều thành phần (đã được thể hiện rất rõ nét trong QĐ số 81/2006/QĐ-TTg: Quyết định Phê duyệt Chiến lươc quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020), ban hành ngày 14/4/2006.
Phát biểu kết luận tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 2, Khóa XIII (26/11/2011 – VTV1 truyền hình trực tiếp), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã chỉ rõ: Từ nay đến năm 2015, phải thực hiện hiện xong việc chuyển các hoạt động dịch vụ chủ yếu như điện, xăng dầu, nước… sang cơ chế thị trường. Đó cũng là yêu cầu đã nêu trong Quyết định 81/2006/QĐ-TTg.
III/ Cần nhấn mạnh quan điểm quản lý thống nhất và lợi dụng tổng hợp nguồn nước trong Luật này.
IV/ Trong Luật cần lưu ý phân biệt rõ các từ Thủy Lợi (tổng hợp, bao trùm, bao gồm cả Thủy Nông, Thủy Điện và nhiều ngành sử dụng nước khác) với Thủy Nông, Thủy Điện, Cấp nước… (thuộc các lĩnh vực sử dụng nước chuyên ngành).
Hiện nay, trong nhiều trường hợp, “Thủy Nông” lại được gọi là “Thủy Lợi” (đồng nhất Thủy nông với Thủy lợi), hoặc dường như thường được hiểu rằng, công trình thủy điện không được coi là công trình thủy lợi (cho rằng Thủy điện không bao gồm trong Thủy lợi!?)…
Cũng cần lưu ý ngữ nghĩa chuẩn xác của các cụm từ “Nguồn Nước”; “Tài Nguyên Nước” và “Thủy Lợi”:
Từ xưa đến nay, cha ông ta có cụm từ nguồn nước để nói dòng chảy do thiên nhiên ban tặng. Cho đến cuối 1997, ở Việt Nam rất ít dùng cụm từ “Tài nguyên nước”, chỉ thông dụng các từ “Nước”, “Nguồn Nước”, “Thủy Lợi”. Trải qua gần mười năm (Bộ Thủy lợi) và hơn hai năm (1996-1998), Bộ Nông nghiệp và PTNT đã kế tục nghiên cứu soạn thảo và trình Quốc hội “Luật Nước” (1997-1998). Các vị trong Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có ý kiến e ngại rằng, từ “nước” (H2O) dễ lẫn với “nước” (đất nước), nên đề nghị dùng tên “Luật Tài Nguyên Nước” (thay cho tên “Luật Nước” do cơ quan soạn thảo đệ trình). Và Luật đã được thông qua với cái tên không hợp lý là “Luật Tài Nguyên Nước” (trong khi người Pháp gọi “Loi sur l’eau”, người Trung Quốc gọi “Thủy Pháp, 水法”, người Mỹ gọi Water Law, như Water Law in California, Water Law in Colorado…). Từ thời điểm đó, cụm từ “Tài Nguyên Nước” bị lạm dụng khá tùy tiện và phổ biến ở Việt Nam. Cần nhận rõ rằng, việc thêm tiền tố “tài nguyên” vào trước từ “nước” làm cho phạm vi điều chỉnh (theo đúng nghĩa của từ “tài nguyên nước”) bị thu hẹp đi rất nhiều! Rừng, đất đai, khoáng sản cũng là tài nguyên. Đâu chỉ có “nước” mới là tài nguyên? Tùy theo ngữ cảnh, từ tiếng Anh “Water Resources” có thể dịch ra tiếng Việt là “Thủy Lợi” hoặc “Tài Nguyên Nước”. Nhưng  theo nghĩa tiếng việt thì “Tài Nguyên Nước” cũng chỉ nói dòng chảy do thiên nhiên ban tặng. Ngành Thủy lợi, từ những năm 50 của thế kỷ 20, đã dùng cụm từ “Thủy Lợi” (và dịch ra tiếng Anh là Water Resources) xuất phát từ nghĩa Hán, nó bao hàm cả dòng chảy do thiên nhiên ban tặng và sự tác động của con người đến dòng chảy để hạn chế mặt hại và khai thác mặt lợi của nước để phục vụ con người và môi trường sinh thái (bằng các giải pháp khoa học công nghệ). Như vậy theo nghĩa tiếng Việt thì từ “Thủy Lợi” có nghĩa rộng hơn từ “Tài Nguyên Nước”. Nhưng trong tiếng Anh thì cả ba cụm từ “Nguồn Nước”; “Tài Nguyên Nước” và “Thủy Lợi” đều cùng được dịch là Water Resources tùy theo ngữ cảnh. Trong từ điển bách khoa Việt Nam cũng giải thích tương tự:
      Trích “Từ điển Bách Khoa Việt Nam” định nghĩa về một số thuật ngữ:
      Tập 4 trang 302:
    "Thuỷ lợi khoa học tổng hợp nghiên cứu ứng dụng các vấn đề kinh tế, kỹ thuật nhằm phát triển, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nước, phòng chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra. Gồm : đánh giá, dự báo diễn biến tài nguyên và môi trường nước (cả nước mặt, nước dưới đất); xác định nhu cầu nước cho dân sinh và các ngành kinh tế quốc dân theo từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội; cân bằng nước trong lưu vực, khu vực, vùng và quốc gia; xác lập các biện pháp cấp, thoát nước cho các đô thị, khu vực kinh tế và các vùng nông thôn; khảo sát, thiết kế và xây dựng  (kể cả các biện pháp chỉnh trị sông và bờ biển); quản lý khai thác có hiệu quả công trình và hệ thống thuỷ lợi, phòng chống lụt bão và quản lý đê điều, quản lý lưu vực, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái."
        Tập 4 trang 30:
"Tài nguyên nước nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ trên Trái Đất. có khả năng phục hồi được, bao gồm các nguồn nước bề mặt ( biển, sông, hồ, ao ...), nước trong lòng đất (nước ngầm), trong khí quyển ( hơi nước, mây...). TNN có thể khai thác được bằng các kỹ thuật và công nghệ hiện có trên một lưu vực và một vùng xác định; trong trường hợp này TNN được coi là nguồn nước. Trên thế giới chỉ có 3% là nước ngọt (các dạng lỏng, rắn, hơi), mà 3/4 của lượng nước ngọt này không thể có giá trị sử dụng cho thực vật, động vật và con người do nằm sâu dưới đất. Trong số lượng nước có khả năng khai thác để sử dụng thì lượng nước có thể khai thác để tiêu dùng (với giá cả hợp lý, chất lượng bảo đảm cho sinh hoạt và không ảnh hưởng đến sức khoẻ của người và vật, tức là không bị ô nhiễm) cũng chỉ chiếm rất ít. Như vậy lượng nước chiếm cho tiêu dùng chỉ khoảng 0, 003% tổng lượng nước trên Trái Đất. So với thế giới, VN có TNN nước tương đối dồi dào, với hệ thống sông ngòi khá dày và phân bố tương đối đều trên cả nước. Để bảo vệ TNN, Việt nam đã ban hành Luật tài nguyên nước ngày 20/5/1998."./.
 
Nơi nhận:                                                                         Giám đốc Công ty
  • Như trên,
  • Bộ trưởng NN&PTNT (để b/c);
  • CN VP CP, CN VP QH, CN các UB Pháp luật,
Kinh tế, KHCN&MT của QH (để b/c);
  • Lưu.
                                                                                              TS Trần Nhơn  
                                                                                             
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê truy cập
myspace tracker
Total views: 103,888,219
Thăm dò ý kiến

Đánh giá của bạn về website?

Quảng cáo
Tin xem nhiều
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây