KHAI THÁC-SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ BÀI TOÁN KINH TẾ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Thứ tư - 26/09/2018 23:37
KHAI THÁC-SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ BÀI TOÁN KINH TẾ NƯỚC Ở VIỆT NAM
(Link tải về: Download )

Nguyễn Ngọc Anh
Nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam

Những năm gần đây, Việt Nam luôn đối mặt với nhiều thiên tai, đặc biệt là lũ lụt và
hạn hán. Nhu cầu nước cho phát triển ngày càng cao, trong khi nguồn nước ngày càng sụt
giảm do biến đổi khí hậu và hoạt động của con người. Vì thế, nguy cơ thiếu nước trở thành
vấn đề sống còn đối với quốc gia. Trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước, đánh giá kinh tế
nước, đặc biệt với việc sử dụng nước vào thời kỳ khô hạn và mùa dòng chảy cạn kiệt là rất
quan trọng. Trong đánh giá kinh tế nước ở Việt Nam, 10 vấn đề sau đây cần được xem xét
giải quyết: (i) Vận hành hệ thống hồ chứa; (ii) Đánh giá kinh tế nước dựa trên các tiêu
chuẩn về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường; (iii) Dự báo khí tượng-thủy văn hạn dài;
(iv) Cân bằng nước dựa trên nguyên lý kinh tế nước; (v) Quản lý và sử dụng tiết kiệm nguồn
nước; (vi) Mối quan hệ giữa chất lượng nước và kinh tế nước; (vii) Kinh tế nước với thiên tai
và biến đổi khí hậu; (viii) Bài toán kinh tế nước và mối quan hệ với thể chế và chính sách về
nước; (ix) Kinh tế nước và vấn đề bảo vệ môi trường; và (x) Phân vùng và xây dựng bản đồ
sử dụng nước. Cụm từ “An ninh nguồn nước” là nói chung để cảnh báo sự suy cấp nguồn
nước cần phải được bảo vệ vì sự ổn định và phát triển của quốc gia, nhưng thực chất của
cụm từ này chính là “An ninh dòng chảy kiệt”, hay “An ninh cấp nước mùa khô”, nếu hiểu
theo đúng nghĩa của nó.
I. Lời tựa
Bài viết sau đây được tổng hợp từ nhiều nghiên cứu và tài liệu trong và ngoài nước, từ
kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn của tác giả trong quá trình công tác. Toàn thể bài viết có
thể là đề tài cho một nghiên cứu mang tính tổng thể về kinh tế nước, cũng có thể mỗi nội
dung sẽ được xem xét nghiên cứu sâu hơn cho từng đề tài riêng biệt. Trong quản lý tổng hợp
tài nguyên nước, phân tích kinh tế nước là nội dung cơ bản quyết định các chuỗi hoạt động
kế tiếp, đồng thời, chính kết quả từ phân tích kinh tế nước lại là nền tảng hình thành nên quản
lý tổng hợp tài nguyên nước một cách hệ thống. Cũng trong bài viết này, tuy một số nội dung
đã được các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp nghiên cứu rất sâu về mặt kỹ thuật, song sự
gắn kết với phân tích kinh tế còn chưa được thực hiện, như quy trình vận hành hệ thống hồ
chứa, dự báo khí tượng-thủy văn, sử dụng tiết kiệm nước, phân tích tối ưu hóa...
II. Đặt vấn đề
Nước là yếu tố cơ bản trong việc duy trì sự sống và mọi hoạt động của con người.
Nước là ưu tiên số 1 trong 5 ưu tiên để phát triển bền vững (WEHAB): Nước-Năng lượng-
Sức khoẻ-Nông nghiệp-Đa dạng sinh học [1]. Đáp ứng nhu cầu về nước nhằm đảm bảo cả về
chất lượng và số lượng là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững. Việt Nam luôn khẳng
định “Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi
trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước”.[2]
Trong khai thác và sử dụng nước, cân bằng nước luôn được đặt ra để giải quyết sự mất
cân đối giữa cung-cầu. Một đất nước phát triển bền vững không phải do có quá nhiều nước,

2
mà biết cân bằng và quản lý nước hiệu quả. Trong cân bằng nước, hai đối tượng chính được
đặc biệt quan tâm là nguồn nước tự nhiên và nhu cầu sử dụng nước cho phát triển. Việt Nam
có 3.450 sông, suối (với chiều dài ≥10 km), gồm 13 sông lớn, 392 sông, suối liên tỉnh và
3.045 sông, suối nội tỉnh. Về lưu vực sông, Việt Nam có 108 lưu vực sông, trong đó có 8 lưu
vực sông lớn là Bằng Giang-Kỳ Cùng, Hồng-Thái Bình, Mã, Cả, Vu Gia-Thu Bồn, Ba, Đồng
Nai và Mekong (Cửu Long, Se San và Sre Pock), với tổng diện tích lưu vực khoảng 270.000
km 2 , bằng 82% diện tích cả nước; 25 lưu vực sông liên tỉnh với tổng diện tích lưu vực khoảng
36.000 km 2 , gần 11% diện tích cả nước; 75 lưu vực sông nội tỉnh với tổng diện tích khoảng
24.600 km 2 , bằng 7,4% diện tích cả nước. Ngoài ra, còn có nhiều hồ, đầm, phá… tự nhiên.
Lượng mưa trung bình nhiều năm cả nước là 1.940 mm, nhưng phân bố rất không đều theo
không gian và thời gian, tập trung vào 4-5 tháng mùa mưa (75-85%). Tổng lượng dòng chảy
hàng năm khoảng 830-840 tỷ m 3 , chủ yếu từ nước ngoài vào (2/3 sông lớn, chiếm 63%, trong
đó lưu vực sông Cửu Long 57% và lưu vực sông Hồng-Thái Bình 16%); Phần nội địa 334 tỷ
m 3 . Tiềm năng nước dưới đất tương đối lớn, ước khoảng 63 tỷ m 3 /năm, tập trung ở Đồng
bằng Bắc Bộ, Đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên. Tài nguyên nước ven biển và các vùng
đất ngập nước nội địa có tầm quan trọng trong bảo tồn và đa dạng sinh học.
Đối với Việt Nam, nước gắn liền với sự hình thành Tổ quốc: Đất-Nước. Nước có vai
trò chủ đạo trong những thành tựu đạt được về sản xuất lúa gạo ở Việt Nam, góp phần quan
trọng đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Nước là nguyên liệu
thiết yếu để bảo đảm an ninh năng lượng của Việt Nam trong điều kiện nhu cầu năng lượng
không ngừng gia tăng. Nước đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng mạnh mẽ sản lượng
nuôi trồng thủy sản những năm gần đây (hơn 12%/năm). Nước cũng góp phần không nhỏ
trong sự phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ, chăm sóc sức khỏe… Nước là thành phần
chính của môi trường và là công cụ quan trọng để giải quyết những vấn đề nóng về môi
trường.
(1) Tính đến nay, cả nước có khoảng 7.000 hồ chứa với tổng dung tích trên 65 tỷ m 3 , trong
đó hồ thủy điện chiếm gần 85% dung tích. Theo các thống kê khác nhau, để khai thác và sử
dụng tài nguyên nước, hiện Việt Nam đang có 904 hệ thống công trình khai thác nước có quy
mô lớn và vừa với diện tích phục vụ từ 200 ha trở lên, trong đó có 110 hệ thống thủy lợi lớn
(diện tích phục vụ trên 2.000 ha/hệ thống), 6.886 hồ chứa lớn, nhỏ với tổng dung tích trữ 50
tỷ m 3 (trong đó có 6.080 hồ thuỷ lợi có dung tích từ 0,05 triệu m 3 trở lên) phục vụ tưới, phát
điện, cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, các ngành kinh tế khác...; 10.076 đập dâng; 13.347
trạm bơm (tổng công suất lắp máy phục vụ tưới 250 MW, phục vụ tiêu 300 MW); trên 5.500
cống tưới, tiêu lớn; gần 26.000 km đê, bờ bao (ngăn lũ đầu vụ Hè-Thu ở ĐBSCL); 235.000
km kênh mương các loại (đã kiên cố được 60.327 km). Các hệ thống thuỷ lợi hiện tưới và tạo
nguồn cho 7,754 triệu ha đất trồng lúa (Đông-Xuân 3,093 triệu ha, Hè-Thu 2,335 triệu ha,
Mùa1,657 triệu ha va Thu Đông 0,669 triệu ha). Tỷ lệ diện tích tưới tự chảy chiếm 61%, còn
lại tưới bằng bơm dầu, bơm điện và các hình thức khác. Hàng năm, các hệ thống thuỷ lợi còn
phục vụ tưới cho 1,645 triệu ha rau màu, cây công nghiệp hàng năm, cây dược liệu; Tiêu
nước cho trên 1,72 triệu ha đất nông nghiệp và cấp khoảng 6 tỷ m 3 nước phục vụ sinh hoạt và
công nghiệp; Cấp nước phục vụ nuôi trồng thủy sản 406.000 ha [3]. Về thủy điện, tổng công
suất của các nhà máy thủy điện hiện chiếm khoảng 30-35% tổng công suất điện quốc gia, đã
hình thành 2 hệ thống bậc thang lớn trên lưu vực sông Hồng và sông Đồng Nai. Toàn quốc có
40 nhà máy thủy điện với công suất trên 100 MW, bao gồm 24 đã xây dựng, 10 đang xây
dựng và 6 chuẩn bị xây dựng hoặc trong quy hoạch. Các nhà máy thủy điện lớn trên 400
MW gồm Sơn La (2.400 MW), Hòa Bình (1.920 MW), Yali (720 MW), Huội Quảng (520

3
MW), Trị An (400 MW), Lai Châu (1.200 MW). Thủy điện nhỏ phát triển mạnh nhưng đang
để lại nhiều tác động tiêu cực.
Những nỗ lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển nguồn nước trên đây, cùng với
việc hình thành các cơ chế, chính sách về quản lý, khai thác và sử dụng nước, là những hoạt
động chính yếu trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Quản lý tài nguyên nước (TNN)
tổng hợp và toàn diện đã trở thành quan điểm nhất quán của Việt Nam, được thể hiện trong
Chiến lược Quốc gia về TNN, được luật hóa và quy định trong Luật TNN: ”Việc quản lý
TNN phải bảo đảm thống nhất theo lưu vực sông, theo nguồn nước, kết hợp với quản lý theo
địa bàn hành chính.” và: ” TNN phải được quản lý tổng hợp, thống nhất về số lượng và chất
lượng nước; giữa nước mặt và nước dưới đất; nước trên đất liền và nước vùng cửa sông, nội
thủy, lãnh hải; giữa thượng lưu và hạ lưu, kết hợp với quản lý các nguồn tài nguyên thiên
nhiên khác”.[2] Luật TNN 2012 được Quốc hội XIII thông qua tại kỳ họp Thứ III
(21/6/2012) thay thế cho Luật TNN 1998, cơ bản khắc phục được những bất cập, tồn tại của
văn bản này và nhiều quy định mới được bổ sung trong Luật, phù hợp và đáp ứng được yêu
cầu chung về quản lý TNN.
Quản lý TNN tổng hợp là một lĩnh vực rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề và nội hàm
khác nhau, do vậy, trong khuôn khổ bài viết này không hy vọng đề cập đến toàn bộ các nội
dung của quản lý TNN tổng hợp mà chỉ bàn về một khía cạnh nhưng là khía cạnh rất quan
trọng, đó là kinh tế nước. Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa về kinh tế nước, định nghĩa
sau đây là một ví dụ:
“Kinh tế nước là sự kiểm tra nguồn cấp, nhu cầu nước và đánh giá tác động lên
nguồn cấp của tất cả các đối tượng sử dụng nước có tính cạnh tranh, bao gồm tưới nông
nghiệp, thủy điện, cấp nước đô thị, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch-dịch vụ, bảo vệ
môi trường...., xác định các giá trị kinh tế của việc sử dụng và tái sử dụng nước của từng đối
tượng, giữa kiểm soát lũ và phòng chống hạn hán, xem xét vai trò của thị trường nước, đối
tượng và khu vực ưu tiên sử dụng nước, điều chỉnh các thể chế và các chính sách liên quan
đến nước, gồm phí tài nguyên nước, chất lượng nước, lợi nhuận và các hiệu ứng xã hội và
môi trường, tiến đến tối ưu hóa sử dụng nước.” [4]

III. Thảo luận

Hình 1: Sơ đồ bài toán
kinh tế nước trong chu trình
Quản lý Tổng hợp Tài nguyên
nước ở Việt Nam

Vận hành hệ thống hồ chứa thủy
lợi-thủy điện
Đánh giá kinh tế nước dựa trên
các tiêu chuẩn về kỹ thuật, kinh tế,
xã hội và môi trường
Dự báo khí tượng-thủy văn hạn dài

Kinh tế nước với thiên tai và biến
đổi khí hậu
Mối quan hệ giữa chất lượng nước
và kinh tế nước
Quản lý và sử dụng tiết kiệm
nguồn nước
Cân bằng nước dựa trên nguyên lý
kinh tế nước

Phân tích kinh
tế nước

QUẢN LÝ
TỔNG HỢP
TÀI NGUYÊN
NƯỚC

Quyết định quy trình vận
hành hệ thống hồ chứa thủy
lợi-thủy điện
Quyết định chuyển nước lưu
vực, liên lưu vực
Xây dựng chương trình dự
báo hạn dài
Phân bổ nước dựa trên cân
bằng nước
Triển khai các giải pháp tiết
kiệm nước
Triển khai các giải pháp
chống ô nhiễm nguồn nước

Kinh tế nước và quan hệ với cơ
chế và chính sách về nước

Triển khai các giải pháp
ứng phó thiên tai và BĐKH
Bổ sung và điều chỉnh cơ
chế và chính sách về nước

4
Tuy nhiên, vấn đề kinh tế nước trong nhiều năm mới chỉ được xem xét hạn hẹp trong
phạm vi từng công trình hay dự án (nhưng chưa đầy đủ), mà chưa được nghiên cứu tổng thể
trên quy mô vùng, liên vùng, toàn quốc, với sự tích hợp đa ngành. Hình 1 cho thấy quan hệ
giữa bài toán kinh tế nước và quản lý tổng hợp tài nguyên nước.
Kinh tế nước cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm cả bốn thành tố cơ bản là
kỹ thuật (đầu tư xây dựng, quản lý vận hành), kinh tế (lợi ích và hiệu quả sử dụng), xã hội và
môi trường. Việt Nam tuy không được xem là Quốc gia dồi dào về nước, song, đứng về
lượng mưa hàng năm thì cũng không phải là Quốc gia thiếu nước. Với lượng mưa trung bình
toàn quốc là 1.940 mm, nhưng nước ta có nhiều nơi mưa trên 2.500 mm, hầu hết mưa trên
1.500 mm, ít nơi mưa dưới 1.000 mm và không nơi nào mưa dưới 500 mm. Ở tần suất lặp lại
10 năm, cũng rất ít nơi mưa xuống dưới 500 mm. Vậy, với lượng mưa này, chúng ta có thực
sự thiếu nước và bị hạn hán hoành hành? Chính ở đây, để khai thác và sử dụng nước một
cách hiệu quả, bài toán kinh tế nước được đặt ra và dần phải được giải, hướng đến quản lý
TNN bền vững hơn. Để xem xét vấn đề kinh tế nước, đặc biệt đối với mùa kiệt và khô hạn,
có 10 vấn đề được đặt ra:
(2) Cần xem xét quản lý và vận hành hệ thống hồ chứa thủy lợi-thủy điện vì một mục tiêu
chung là lợi dụng tổng hợp, trong đó, tùy theo từng thời kỳ và từng năm, có hướng ưu tiên
cho từng đối tượng sử dụng nước khác nhau, nhằm đảm bảo lợi ích và hiệu quả cao nhất. Về
nội dung này, chúng ta đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống hồ chứa trên từng
lưu vực sông, bao gồm cả hồ thủy lợi, hồ thủy điện, thậm chí hồ du lịch-dịch vụ đối với cấp
nước hạ lưu. Ngoại trừ các hồ thủy lợi có nhiệm vụ chính là tưới và cấp nước, hiện các hồ
thủy điện và mục đích khác còn đặt nặng mục tiêu phát điện và dịch vụ nên hiệu quả cấp
nước của cả hệ thống chưa cao, thậm chí còn nhiều hạn chế. Vì vậy, trước khi xem xét
chuyển dần nhiệm vụ các hồ thủy điện từ ưu tiên phát điện sang ưu tiên phòng lũ và cấp
nước, thì cũng nên chuyển dần nhiệm vụ của các hồ này từ tham gia vào phát điện thường
xuyên sang làm nhiệm vụ chính là phát điện phụ tải, đặc biệt đối với các vùng nhạy cảm và
có độ biến động khí hậu cao (Hình 2).

Trong những năm trước đây, do nhiều nguyên nhân, hầu hết các hồ đều được thiết kế
với quy trình điều tiết mùa và năm, rất ít hồ điều tiết nhiều năm và ngay cả hồ điều tiết nhiều
năm cũng hoạt động như là hồ điều tiết năm. Vì vậy, đứng trước yêu cầu sử dụng nước ngày
càng cao, tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu ngày càng lớn, thì các hồ chứa này không
còn phù hợp do dung tích quá nhỏ. Cần xem xét và đánh giá cụ thể từng hồ để có kế hoạch
nâng cấp, chuyển từ vận hành điều tiết năm lên nhiều năm, tăng hiệu quả hoạt động của hồ.
Bên cạnh đó, việc điều hành liên hồ chứa là vô cùng quan trọng và nếu cần, xây dựng hệ
thống kênh liên hồ. Phân tích kinh tế nước cũng sẽ cho thấy hồ nào nên làm và hồ nào không
nên làm, cả về vị trí (liên quan đến khối lượng đào đắp, địa chất công trình), quy mô (liên

5
quan đến nguồn nước, địa hình lòng hồ, dung tích chết, dung tích hiệu dụng, nhu cầu nước)
và khí hậu (liên quan đến bốc thoát hơi lòng hồ và khu tưới). Rõ ràng là với một hồ chứa có
thể sử dụng đến 70% nguồn nước lưu vực sông, gần khu cấp nước, địa hình và địa chất thuận
lợi, nhưng nếu lòng hồ quá nông, dung tích hiệu dụng chỉ vài trăm ngàn m 3 , lại nằm trong
vùng có độ bốc hơi cao (trên 1.500 mm/năm) thì việc đầu tư xây dựng sẽ không hiệu quả.
(3) Bài toán kinh tế nước luôn được đặt ra cho mỗi hệ thống và trong quá trình vận hành
hàng năm của hệ thống. Bài toán này được giải quyết trên 4 tiêu chí chính là kỹ thuật, kinh
tế, xã hội và môi trường. Trong bài toán này, sự đánh đổi giữa hiệu quả kiểm soát lũ/thiệt hại
do lũ và chống hạn/thiệt hại do hạn phải được xem xét. Với sự biến động lớn của dòng chảy
hàng năm, khó có thể đạt được mục tiêu vừa kiểm soát tốt lũ (và đảm bảo sản lượng điện)
vừa cấp nước đầy đủ vào mùa khô. Ở đây, cần giải bài toán cân bằng thiệt hại và lợi ích giữa
tổn thất do xả lũ/kiểm soát lũ và tổn thất do hạn hán/cấp nước ổn định trong vận hành hồ
chứa theo mục tiêu an toàn hồ chứa (dẫn đến giảm sản lượng điện nhưng đảm bảo cấp nước
mùa khô) hoặc tối đa sản lượng điện và chấp nhận thiếu nước mùa khô. Bên cạnh đó, ngay
trong từng mùa khô, vấn đề sử dụng nước hiệu quả với các năm ít nước luôn được xem xét
khi cân bằng lợi ích các vùng sản xuất và đối tượng ưu tiên (Hình 4). Ví dụ khi chuyển 1 m 3 /s
nước từ sông Đồng Nai sang vùng ven biển (Ninh Thuận-Bình Thuận), dẫn đến tổn thất sản
lượng điện tại tất cả các nhà máy thủy điện hạ lưu (từ Da Nhim đến Trị An khoảng 0,3-0,5%
nhưng hiệu quả sử dụng có thể sẽ cao hơn nhiều. Dĩ nhiên là việc chuyển này cũng có những
giới hạn của nó. Hiện nay, tuy một số đối tượng đã nộp phí sử dụng nước, song mức phí và
mức chênh lệch khi sử dụng nước theo thời gian và khối lượng lũy tiến, đặc biệt vào những
năm rủi ro về nước, chưa được xem xét theo hướng ưu tiên và hiệu quả kinh tế. Để giải quyết
yếu tố kinh tế đơn thuần, bài toán tối ưu hóa sẽ phải được xem xét sử dụng. [5]

(4) Vấn đề dự báo khí tượng-thủy văn, đặc biệt dự báo dài hạn là cực kỳ quan trọng. Do
nhiều nguyên nhân, từ trước đến nay chúng ta chỉ tập trung chủ yếu vào dự báo hạn ngắn (1-
3 ngày) mà xem nhẹ dự báo hạn vừa (3-10 ngày) và hạn dài (1- 6 tháng), đặc biệt hạn cực dài
(3-5 năm). Với kinh nghiệm và trang thiết bị hiện có, tùy thuộc vào yếu tố dự báo (mưa, gió,
mực nước, nhiệt độ, triều cường...), thời gian dự báo (mùa lũ/mùa kiệt, mùa khô/mùa mưa),
không gian dự báo (miền núi/đồng bằng, sông lớn/sông nhỏ), hiện nay dự báo hạn ngắn có
thể có độ chính xác trên 85%, hạn vừa trên 75% và hạn dài chỉ mang tính tham khảo. Trong
khi đó, chúng ta chưa thực hiện dự báo hạn cực dài, do vậy, công tác phòng chống thiên tai
còn rất bị động, ngay cả với hạn hán chứ chưa nói đến bão lũ và các dạng thiên tai khác
(Hình 5). Ở đây, với dự báo hạn dài và cực dài, yêu cầu độ chính xác cao về lượng là khó có
thể, song, chúng ta rất cần một dự báo mang tính về xu thế chung. Việc dự báo này chủ yếu
dựa vào tính quy luật của các hiện tượng khí tượng-thủy văn, như các chu kỳ hạn dài 36 năm,
hạn ngắn 18 năm, chu kỳ thủy triều năm và tháng... Ví dụ trong chu kỳ hạn ngắn 18 năm, với
Hình 4: Tối ưu hóa hiệu quả cấp
nước cho các đối tượng sử dụng
nước (Hình vẽ có tính minh họa)

6
sự tồn tại của các nhóm năm nước lớn, nước nhỏ và nước trung bình (mỗi nhóm kéo dài
khoảng 5-7 năm), cộng thêm tác động mạnh lên hay yếu đi của các hiện tượng El Ninõ và La
Nina, hoàn toàn có thể dự báo được xu thế khí tượng-thủy văn 3-5 năm đến. Từ đó, có thể
khuyến cáo các địa phương (và chủ các hồ chứa) trong quản lý và vận hành hệ thống theo
nhóm năm để có sự bù trừ và tương hỗ lẫn nhau. Trên nền dự báo xu thế hạn dài, cần tập
trung làm tốt hơn dự báo hạn vừa. Bên cạnh đó, cần phối hợp chặt chẽ với các ngành liên
quan và địa phương để làm tốt công tác cảnh báo. Nên thấm nhuần quan điểm “Dự báo là
điều kiện cần, cảnh báo là điều kiện đủ”. Người dân rất cần các bản tin cảnh báo sớm để điều
chỉnh kịp thời quy trình sản xuất và đời sống, ứng phó hiệu quả với thiên tai và BĐKH.

(5) Trong quản lý, khai thác và sử dụng nguồn nước, cân bằng nước luôn là bài toán quan
trọng quyết định cơ chế và đặc thù phân phối nước cho từng đối tượng, dựa trên nguyên lý
chính là cân bằng cung-cầu, mà yếu tố cơ bản là nguồn cấp. Kết quả cân bằng thường để chỉ
ra cần phải đầu tư thêm công trình A, B, C... nào đó, cho dù nguồn vốn đầu tư khá tốn kém,
trong khi rất ít khi xem xét đến yếu tố kinh tế. Cân bằng nước dựa trên nguyên lý kinh tế
nước (cân bằng kinh tế nước) là một bài toán khó, bởi ngoài các thành tố cơ bản của bài toán
cân bằng nước thông thường, như tổng nguồn (theo tần suất), tổng nhu cầu (theo thời gian),
nguồn cấp sẵn có (hiện trạng công trình), lượng nước thừa/thiếu, công trình đề xuất (theo thời
gian)..., thì cân bằng kinh tế nước còn đưa thêm một số thành tố quan trọng khác như mức độ
ưu tiên, thời đoạn/giai đoạn ưu tiên, mức độ rủi ro do thời tiết và biến đổi khí hậu, sự giảm
cấp nguồn nước do ô nhiễm ảnh hưởng đến các đối tượng ưu tiên, hiệu quả tối ưu tích hợp sử
dụng nguồn nước... Bên cạnh đó, các tác động từ mô hình dự báo khí hậu toàn cầu và khu
vực đến nguồn nước của từng lưu vực sông cũng phải được xem xét (theo 3 xu thế chung là
khô hạn nhất có thể, trung bình và ẩm ướt nhất có thể). Vì vậy, để giải bài toán cân bằng kinh
tế nước, các mô hình tối ưu hóa đa biến có điều khiển sẽ phải được ứng dụng (Hình 6).

Hình 6: Bài toán tối ưu
hóa sử dụng nước trong
hệ thống thủy lợi/lưu vực
sông

Cấp
nước
nông
nghiệp

Cơ chế quản lý / Động cơ kinh tế

Hoạt động của hệ thống
thủy văn trong lưu vực

Đạt mục tiêu tối đa lợi nhuận
trên lưu vực

Sử dụng nước
trong
sôn
g

Sử dụng nước
ngoài
sôn
g Cấp
nước
dân sinh,
công
nghiệp

Thủy
điện
Bảo vệ
MT,
sinh
thái

Nước
dưới
đất

Phân phối nước
tại mặt ruộng

Lợi nhuận từ
cấp nước
nông nghiệp

Lợi nhuận
từ thủy điện

Lợi nhuận từ
cấp nước dân
sinh, công
nghiệp

Hiệu ích từ
bảo vệ môi
trường,
sinh thái

Trả lại nước
cho dòng sông
Các thành phần
thủy văn-dòng chảy

Các thành phần
kinh tế/ nông nghiệp

Hình 5: Tối ưu hóa độ chính xác
của dự báo hạn dài (Hình vẽ có tính
minh họa)

7
(6) Cần làm tốt công tác quản lý sử dụng nước, bao gồm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và
thông minh các nguồn nước. Việc kết hợp khôn khéo và hợp lý các nguồn nước mưa, nước
mặt và nước ngầm ở từng vùng, từng thời điểm và từng loại cây trồng khác nhau là rất quan
trọng. Ở những vùng khó khăn về nguồn nước, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền người
dân sử dụng nước tiết kiệm, chuyển đổi mùa vụ, cây trồng, có phương án linh hoạt và chấp
nhận tổn thất khi có rủi ro thiên tai. Các tính toán cho thấy, việc xuất khẩu nông sản luôn đi
đôi với xuất khẩu tài nguyên nước trong khi mức tiêu thụ nước trên một đơn vị sản phẩm của
Việt Nam còn rất cao, ví dụ 1 kg gạo cần khoảng 1,5 m 3 nước, 1 kg cam/quýt cần khoảng 1,5
m 3 nước, 1 kg ngô cần khoảng 1,0 m 3 nước, 1 kg cà chua cần khoảng 0,5 m 3 nước, 1 tách
trà/cà phê cần khoảng 0,05 m 3 nước, 1 ly sữa Vinamilk cần khoảng 0,35 m 3 nước, 1 chai bia
333 cần khoảng 0,3 m 3 nước, 1 kg thịt bò/dê/cừu cần khoảng 10 m 3 nước và 1 kg thịt heo cần
khoảng 5 m 3 nước... [6], cao hơn nhiều so với trung bình của Thế giới (một vài mức tiêu thụ
nước của Việt Nam thấp hơn các nước khác là do không có điều kiện sử dụng nhiều hơn hoặc
giống cây/con địa phương cần ít nước hơn). Việc thành lập các tổ/nhóm hộ dân sử dụng nước
là rất hữu ích cho mục tiêu tiết kiệm nước. Trong quá trình thực hành tưới tiết kiệm nước,
chúng ta có thể học tập kinh nghiệm từ các nước tiên tiến như Israel, Nhật Bản, Hà Lan...,
song cần lưu ý đến đặc thù kinh tế và điều kiện dân trí của nước ta để áp dụng hiệu quả.

(7) Ngày nay, chất lượng nước và ô nhiễm nguồn nước được xem là một yếu tố quan
trọng đối với bảo vệ, khai thác và sử dụng nguồn nước. Tổng lượng nước ít thay đổi theo thời
gian nhiều năm, song sự giảm cấp chất lượng nước là mối đe dọa lớn nhất cho sự thiếu hụt
nguồn nước có sẵn cho các đối tượng sử dụng “khắt khe” và ngày càng trở nên “khắt khe”
hơn. Với đà phát triển của kinh tế-xã hội, yêu cầu về chất lượng nước cho sinh hoạt, công
nghiệp, du lịch-dịch vụ ngày càng nghiêm ngặt, cho chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng
thủy sản (ngọt/lợ) ngày càng cao, cho tưới nông nghiệp ngày càng được chú trọng... Với việc
bảo vệ môi trường nước, đặc biệt là việc quản lý bề mặt các lưu vực sông còn nhiều hạn chế
như hiện nay, dẫn đến chất lượng nước ngày càng suy giảm trước khi tiếp cận các điểm lấy
nước có nhu cầu lớn. Xâm nhập mặn ngày càng cao và sự phèn hóa cũng tham gia làm giảm
nguồn nước sử dụng. Nếu như 50 năm trước đây, chất lượng nước suy giảm chỉ ảnh hưởng
đến dưới 1% nguồn cấp, thì 20 năm gần đây đã tăng lên 5% và hiện nay xấp xỉ 10% [6]. Nếu
việc bảo vệ môi trường nước không có bước tiến nhảy vọt, thì đến 2030 sự suy giảm chất
lượng nước sẽ ảnh hưởng đến 20% nguồn cấp.
Hình 7: Tối ưu hóa độ mức độ cấp
nước cho nông nghiệp và chế biến
thực phẩm (Hình vẽ có tính minh họa)

Hình 8: Tối ưu hóa hiệu ích cấp
nước với chất lượng nguồn nước
(Hình vẽ có tính minh họa)

8
Việc giảm cấp chất lượng nước không chỉ tác động đến thu hẹp nguồn cấp mà còn
tăng chi phí trong quản lý và xử lý ô nhiễm khi sử dụng. Nghĩa là, 1 m 3 nước ngọt trước đây
giá 1.000 đồng thì nay, tăng lên 1.500 đồng (với cùng một bằng giá) do phải tốn nhiều tiền
hơn cho quản lý lưu vực sông, quản lý nguồn nước, xử lý các điểm gây ô nhiễm và chi phí tại
các điểm lấy nước... Vì vậy, cùng với số lượng nước, chất lượng nước nguồn cấp ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong bài toán cân bằng và kinh tế nước. Mối quan hệ giữa chất
lượng nước và kinh tế nước trở nên vô cùng chặt chẽ (Hình 8).
(8) Kinh tế nước với thiên tai và biến đổi khí hậu (BĐKH) là một phạm trù mới, đòi hỏi
không chỉ dài và dày về số liệu thống kê (tần suất phòng chống thiên tai) và kịch bản BĐKH,
mà còn là phương pháp phân tích hệ thống các nguy cơ do thiên tai và BĐKH có thể xảy ra
và hiệu quả của các giải pháp ứng phó ngắn, trung và dài hạn. Thực tế những năm qua cho
thấy thiên tai và BĐKH ngày càng thể hiện rõ ở cả 3 miền của nước ta, với các nhận định là,
miền Bắc mưa trận ngày càng lớn, hậu quả lũ ống, lũ quét và sạt lở đất ngày càng nghiêm
trọng; miền Trung và Tây Nguyên mưa năm có xu thế giảm, đặc biệt đầu và cuối mùa, khiến
hạn hán kéo dài và ngày càng khốc liệt; miền Nam triều cường có xu thế cao dần qua từng
năm, gây nên ngập triều trong mùa mưa và xâm nhập mặn trong mùa khô ngày càng gay gắt.
Đứng trước những rủi ro do thiên tai và BĐKH như vậy, vấn đề bài toán kinh tế nước phải
được xem xét và giải quyết để mang lại hiệu quả cao cả về kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ
môi trường. Hiện nay, với các bất ổn về thiên tai và BĐKH, thế giới đã và đang hình thành
hai xu thế về xử lý bài toán này, một bên là “đầu tư không hối tiếc” (unregretted investment)
[7] và một bên là “kịch bản BĐKH không chắc chắn” (unreliable scenarios) [8]. Trong khi
“đầu tư không hối tiếc” khẳng định sự cần thiết của các công trình quy mô lớn với tuổi thọ
hàng trăm năm để ứng phó hiệu quả với BĐKH theo các kịch bản đã được dự báo, mà lập
luận chính là các biến cố và rủi ro thiên tai có thể xảy ra bất kỳ lúc nào trong tương lai, với sự
phá hủy vượt xa so với mức đầu tư thực tế-dù lớn, ngay từ bây giờ-để ứng phó hiệu quả với
nó; thì “kịch bản BĐKH không chắc chắn” lại cho rằng tuy BĐKH là hiện hữu, song mức độ
lớn bé thế nào của các kịch bản dự báo lại phụ thuộc quá lớn vào các dữ liệu đầu vào, mô
hình tính toán và sự nỗ lực cứu vớt của loài người trong tương lai, vì thế, rất cần cân nhắc
trước khi đầu tư vào một công trình lớn nào đó mà quy mô của nó lại do các kịch bản được
xem là không chắc chắn quyết định. Bài toán kinh tế nước sẽ phải giải quyết sự đối nghịch
này một cách hài hòa và dù có nghiêng về bên nào thì cũng phải đảm bảo sự đầu tư là hiệu
quả (Hình 9). Sẽ có ba giải pháp được chọn lựa để phát triển là đầu tư công trình một lần, đầu
tư công trình có thể nâng cấp và đầu tư công trình có thể bổ sung, ứng với các kịch bản và
thực tế BĐKH đã, đang và sẽ xảy ra.

(9) Bài toán kinh tế nước có sự liên quan chặt chẽ với sự hình thành các thể chế và chính
sách về nước. Do nước liên quan đến tất cả mọi hoạt động kinh tế-xã hội, nên các thể chế và
Hình 9: Tối ưu hóa đầu tư trong
điều kiện biến đổi khí hậu
(Hình vẽ có tính minh họa)

9
chính sách về nước cũng được xem xét một cách toàn diện và tổng hòa. Dựa trên kết quả
phân tích bài toán kinh tế nước cho phép cân nhắc một cách cơ bản các nội hàm của thể chế
và chính sách về nước, như xây dựng quy trình vận hành hệ thống hồ chứa, quy trình vận
hành hệ thống công trình thủy lợi; cơ chế và chính sách đầu tư và xã hội hóa về nước; cơ chế
và chính sách quản lý, bảo vệ và khai thác nước; cơ chế và chính sách phân bổ sử dụng nước
và tổ chức sử dụng nước; cơ chế và chính sách phối hợp liên ngành, liên địa phương; cơ chế
và chính sách chuyển nước trong lưu vực và liên lưu vực; cơ chế và chính sách phí và lệ phí
sử dụng nước; cơ chế và chính sách bảo tồn các vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
đất ngập nước; cơ chế và chính sách bảo vệ môi trường liên quan đến nước; cơ chế và chính
sách bảo vệ công trình nước; cơ chế và chính sách bảo vệ công trình phòng tránh thiên tai; cơ
chế và chính sách về giảm nhẹ thiên tai và ứng phó với BĐKH; cơ chế và chính sách hợp tác
quốc tế về nước... Không dựa vào các kết quả từ phân tích kinh tế nước, các thể chế và chính
sách sẽ xa rời thực tế và không mang hơi thở của kinh tế thị trường. Như vậy, có thể nói rằng,
bài toán kinh tế nước là nền tảng cơ bản nhất cho sự hình thành các thể chế và chính sách về
nước mang tính thực tiễn cao và đi được vào đời sống xã hội.
(10) Kinh tế nước và bảo vệ môi trường là bài toán khó có lời giải thỏa đáng và chính xác,
song là bài toán cần thiết cho mọi hoạt động bền vững của con người. Con người phụ thuộc
vào môi trường và môi trường phụ thuộc vào nước. Xã hội càng hiện đại, nước cho môi
trường càng nhiều. Nước không chỉ dùng vệ sinh đường phố, tưới công viên, cây xanh ven
đường, mà còn nuôi sống dòng sông (dòng chảy môi trường), giữ ổn định cho các vùng đất
ngập nước, phòng chống cháy rừng, đẩy mặn, ém phèn, đẩy và pha loãng nước ô nhiễm trên
sông, giữ cho lòng hồ trên mực nước chết... Hiệu quả của lượng nước này phần lớn là vô hình
và khó định lượng trực tiếp. Tuy nhiên, bằng nhiều phương pháp, chúng ta vẫn có thể định
lượng hóa chúng bằng tiền. Vấn đề là khi giải bài toán này, định lượng bằng tiền đã đủ để
ước định được tầm quan trọng của nước đối với môi trường, hay lớn hơn, là nước với môi
trường sống của con người hay chưa? Như vậy, không thể tách rời bài toán nước- môi trường
và nước-kinh tế nước. Để giải bài toán này, chúng ta rất cần đặt chúng trong mối quan hệ
giữa phát triển và tăng trưởng, phát triển và bảo vệ môi trường. Nếu như các nước phát triển
đang thực hành quan điểm “phát triển trong bảo vệ môi trường” thì đối với Việt Nam, một
nước đang phát triển, lại phải hành động theo quan điểm “bảo vệ môi trường trong phát
triển”. Chúng ta không thể áp đặt quan điểm của phương Tây, khi chúng ta cần tăng trưởng
nhanh về kinh tế hơn là cố gắng bảo vệ tuyệt đối về mặt môi trường. Vì thế, bài toán nước và
môi trường càng khó có lời giải tối ưu.
(11) Xây dựng bản đồ phân vùng ưu tiên cấp nước dựa vào 4 yếu tố chính là kỹ thuật, kinh
tế, xã hội và môi trường. Bản đồ phân vùng này là cơ sở để xây dựng chiến lược bảo vệ, khai
thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nước cho từng vùng và cả Quốc gia. Ở cấp độ vùng kinh
tế, ta có bản phân vùng sau đây:
Vùng Kinh tế Kinh tế Kỹ thuật Xã hội Môi trường Tổng
1 2 3 1 2 3 1 2 3 1 2 3
Miền núi và trung du Bắc Bộ x x x x 8
Đồng bằng sông Hồng x x x x 8
Duyên hải Bắc Trung bộ x x x x 8
Duyên hải Nam Trung bộ x x x x 8
Tây Nguyên x x x x 8
Đông Nam bộ x x x x 8

10
Đồng bằng sông Cửu Long x x x x 8
1: Mức độ ưu tiên thấp 2: Mức độ ưu tiên trung bình 3: Mức độ ưu tiên cao
Bên cạnh đó, phân vùng ưu tiên đối tượng cấp nước, với nhóm 6 đối tượng chính là
tưới nông nghiệp (TNN), thủy điện (TĐ), nuôi trồng thủy sản (mặn/lợ)(NTTS), sinh
hoạt/công nghiệp (SH/CN), du lịch/dịch vụ (DL/DV) và môi trường (MT) cũng được thực
hiện.
Vùng Kinh tế TNN TĐ NTTS SH/CN DL/DV MT Tổng
1 2 3 1 2 3 1 2 3 1 2 3 1 2 3 1 2 3

Miền núi-Trung du Bắc
Bộ x x x x x x 9
Đồng bằng sông Hồng x x x x x x 12
Duyên hải Bắc Trung bộ x x x x x 10
Duyên hải Nam Trung
bộ x x x x x x 11
Tây Nguyên x x x x x x 9
Đông Nam bộ x x x x x x 15
Đồng bằng sông Cửu
Long x x x x x x 11
1: Mức độ ưu tiên thấp 2: Mức độ ưu tiên trung bình 3: Mức độ ưu tiên cao
Bảng trên cho thấy 2 vùng kinh tế Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ có mức
độ ưu tiên cấp nước cao nhất bởi đây là 2 vùng kinh tế trọng điểm quan trọng nhất, đặc biệt
là vùng Đông Nam bộ. [6]
IV. Kết luận
Để phát triển bền vững kinh tế-xã hội, việc kiểm soát nước luôn là ưu tiên hàng đầu
của mỗi quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng
gọi Tổ quốc là đất nước. Có đất có nước mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu
nước mạnh. Nước cũng có thể làm lợi nhưng cũng có thể làm hại, nhiều nước quá thì úng lụt,
ít nước quá thì hạn hán. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hòa với nhau,
để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội” (Hội nghị Thủy lợi toàn miền
Bắc, ngày 17/9/1959). Ngày nay, với trình độ khoa học và công nghệ ngày càng hiện đại, áp
lực về nhu cầu nước ngày càng lớn, tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng khốc
liệt, cho chúng ta thấy rằng nước lại càng quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết. Trong các
biến cố thiên tai, hạn hán ngày càng trở nên nguy hiểm và tác động ngày càng lớn đến mọi
mặt đời sống kinh tế và xã hội. Lũ lớn đến bao nhiêu thì cũng phải có giới hạn, và giới hạn
đó con người hoàn toàn có thể ứng phó được. Song, nếu hạn tiến đến giá trị “không”, thì con
người sẽ diệt vong. Vì vậy, quản lý tài nguyên nước và bài toán kinh tế nước luôn gắn liền
với chiến lược kiểm soát hạn. Cụm từ “An ninh nguồn nước” là nói chung để nhằm ứng phó
với sự suy giảm nguồn nước cho phát triển kinh tế-xã hội, nhưng thực chất của cụm từ này
chính là “An ninh dòng chảy kiệt”, hay “An ninh cấp nước mùa khô”, nếu hiểu theo đúng
nghĩa và bản chất của nó. Để thực thi quản lý tổng hợp tài nguyên nước cũng như vận hành
hiệu quả các hệ thống công trình thủy lợi-thủy điện, phân tích kinh tế nước là chìa khóa để ra
quyết định cho mọi hành động.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây