MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH THỦY LỢI VIỆT NAM – GIAI ĐOẠN 2016-2025, TẦM NHÌN 2035

Thứ tư - 11/11/2015 08:57

“Lấy thủy lợi nuôi thủy lợi và phát triển thủy lợi” là ý tưởng đã nung nấu của tác giả từ đầu những năm 80 của thế kỷ hai mươi. Nó bắt nguồn từ sự quan sát hiệu quả kinh tế - xã hội rất to lớn, có tính đột phá của các hệ thống thủy lợi đã mang lại cho khắp các vùng miền trên đất nước.

Bái Thượng (Thanh Hóa) và Đô Lương (Nghệ An) là hai công trình đã để lại dấu ấn sâu sắc trong những ngày đầu bước vào ngành thủy lợi của tác giả.

Được cử đi dự lớp bồi dưỡng về quản lý kinh tế (6 tháng) năm 1984 tại Moskva, trong bản khóa luận, tác giả đã tổng hợp số liệu thống kê thực tế của 4 công trình thủy lợi  Kẻ Gỗ (Nghệ Tĩnh), Yên Lập (Quảng Ninh), Núi Cốc (Bác Thái), Phú Ninh (Quảng Nam – Đà Nẵng), chứng minh rằng thời gian hoàn vốn của 4 công trình này đều dưới 15 năm, và khẳng định: đầu tư cho thủy lợi có thể hoàn vốn trên thựn tế, để thực hiện tái sản xuất giản đơn và mở rộng (không cần phải áp dụng cơ chế “xin – cho” đối với ngành thủy lợi).  Vị Phó giáo sư hướng dẫn rất thích thú về phát hiện có tính sáng tạo của bản luận văn.

Nhưng tác giả tự nghĩ: mình chẳng có sáng tạo gì cho lắm. Chẳng qua, chịu khó quan sát và suy ngẫm một chút là nhận ra cái cốt lõi của chân lý “nhất nước nhì phân tam cần tứ giống” mà ông cha ta đã đúc kết. Việc còn lại chỉ là tìm số liệu, diễn đạt vấn đề với một vài phép tính sơ cấp mà thôi!. Và cũng không ngờ, chính câu nói vui ngoài lề một cuộc họp của Thứ trưởng Vũ Khắc Mẫn đã để lại dấu ấn sâu sắc cho nhiều người, và góp phần thôi thúc tác giả đi sâu nghiên cứu không ngưng nghỉ đề tài “lấy thủy lợi nuôi thủy lợi và phát triển thủy lợi” cho đến ngày nay: “Các cậu lắm khi phàn nàn ‘thủy lợi’ với ‘thủy hại’. Giả thử các công trình thủy lợi đều ngừng hoạt động, thử hỏi năng suất lúa bình quân có đạt nổi 1tấn/ha/năm không?”

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), trong bài tham luận đọc tại Đại hội, tác giả đã khiêm tốn đề cập đến hiệu quả to lớn đóng góp của ngành thủy lợi cho nền kính tế quốc dân. Và rất vui, sau đó, trong một lần đi công tác Liên xô, trên chuyến bay từ Moskva trở về Hà Nội, tình cờ ngồi bên cạnh Đại sứ Việt Nam tại Mông Cổ, anh ấy tự giới thiệu: “Tôi đã biết tiếng anh qua bài tham luận tại Đại hội VI đã được trích đăng trên Báo Nhân Dân”. Vị Đại sứ cũng ca ngợi thành quả thủy lợi, không những là biện pháp hàng đầu trong nông nghiệp mà còn là mạch máu của nền kinh tế quốc dân.

Năm 1987, trong thời gian chỉ đạo đẩy mạnh tiền độ thi công công trình thủy lợi Thạch Nham, tác giả thường có điều kiện gặp gỡ, trao đổi với lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi, chính anh Võ Trọng Nguyễn, phó bí thư thường trực tỉnh ủy đã cung cấp cho tác giả thông tin quý báu về cơ chế thủy lợi phí  “tam - thất” và “tứ - lục” đã được thị trường Quảng Ngãi chấp nhận trước ngày đất nước thống nhất (1975). Cơ chế  “tam – thất” áp dụng đối với loại hình tưới bằng đập dâng: cuối vụ thu hoạch, người cung ứng dịch vụ thủy nông hưởng 3 phần, người trồng lúa hưởng 7 phần. Cơ chế  “tứ - lục” áp dụng đối với loại hình tưới bằng bờ xe nước: cuối vụ thu hoạch, chủ bờ xe nước hưởng 4 phần, người trồng lúa hưởng 6 phần.

Về cơ chế người làm dịch vụ tưới bằng bơm nước được hưởng 1/3 sản lượng thu hoạch cuối vụ (đã được chấp nhận rộng rãi ở các tỉnh Miền Nam trước 1975) thì tác giả đã biết được từ cuối những năm 1980 và luôn ghi nhớ sâu sắc thông tin rất có giá trị này.

Những năm 1988-1989, UBND huyện Diên Khánh , được Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa duyệt cho thí điểm nâng mức thu thủy lợi phí lên 12% (không kể 2% cho phần nội đồng), có 6 xã thu mức 20%, để khắc phục tình trạng thiếu vốn duy tu vận hành các công trình thủy lợi trong huyên. Tác giả đã có báo cáo tổng kết thực tiễn “Lấy công trình nuôi công trình, lấy thủy lợi nuôi thủy lợi – Bài học kinh nghiệm của huyện Diên Khánh, Khánh Hòa”, báo cáo chuyên đề tại học viện Nguyễn Ái Quốc (lớp A2, 1989-1990), tháng 1/1990.

Nối tiếp mạch tư duy kinh tế đó, tháng 6/1991, tác giả đã bảo vệ thành công Luận án PTS kinh tế “Một số vấn đề về tái sản xuất vốn trong ngành thủy lợi ở Việt Nam” tại Đại học KTQD. Đó cũng chính là Đề án “Lấy thủy lợi nuôi thủy lợi và phát triển thủy lợi” của tác giả. Trong đề án, 10 đặc điểm của hàng hóa nước và 10 hệ quả lần đầu tiên được đề cập và phân tích cụ thể, sâu sắc. Trong quá trình hình thành Luận án PTS kinh tế, tác giả đã cùng phối hợp trao đổi thống nhất nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn và các số liệu thống kê với các chuyên gia của Cục Quản lý Khai thác công trình Thủy lợi, vì thế Đề án có tính thưc tiễn cao, được nhiều chuyên gia hàng đầu của Cuc đồng thuận. và đã từng bước đi vào cuộc sống thực tế. Mức giao kế hoạch thu thủy lợi phí năm 2005 của Bộ NN&PTNT 1500 tỷ đồng, tương đương 830.000 tấn thóc, chính là ứng với mức thu mô hình Ib trong Đề án của tác giả.

Cuối năm 1991, có dịp về thăm đập Đồng Cam, đi thực địa và làm việc với Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên Nguyễn Thiện Thuật, tác giả trao đổi vui với vị Chủ tịch: “Phú Yên mình có một mỏ vàng lộ thiên tái sinh hàng năm, khai thác mãi không bao giờ cạn. Đó là thảm lúa vàng của cánh đồng Tuy Hòa mênh mông, nổi tiếng cả miền nam Trung bộ. Và thưa Chủ tịch, sản lượng vàng tái sinh được khai thác hàng năm đó có sự đóng góp 30% giá trị từ hệ thống thủy lợi Đồng Cam đấy ạ!” Chủ tịch Nguyễn Thiện Thuật cười, không phản đối, vì ông quá rõ cơ chế “tam – thất” đã rất thịnh hành ở miền Nam trước ngày thống nhất đât nước.

Tuy nhiên, khi cơ chế thủy lợi phí (có lý có tình) theo tinh thần Nghị định 112-HĐBT đang đi vào cuộc sồng ngày một nề nếp, thì đến năm 2007, Chính phủ ra Nghị định 154/2007/NĐ-CP

"… miễn thủy lợi phí đôi với: các hộ gia đình, cá nhân có đất, mặt nước dùng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối..." và “Ngân sách trung ương đảm bảo kinh phí để cấp bù cho các đơn vị quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi tương ứng với số thuỷ lợi phí được miễn”.

Nghị định này đã phá bỏ một nét đẹp, đã thành truyền thống, thành tập quán phù hợp với cơ chế thị trường: "người dùng sản phẩm hàng hóa nước phải trả tiền dịch vụ sòng phẳng". Chủ trương này đã dẫn đến tác động tiêu cực mà nhiều chuyên gia đã nhìn thấy trước.

Tính đến nay, gần tám năm thực hiện chủ trương cấp bù Thủy lợi phí cho người trồng lúa, nhiều cán bộ quản lý cấp cao đã nhìn thấy các mặt bất cập bộc lộ rõ ràng.

Đã đến lúc dứt khoát từ bỏ cơ chế “xin - cho” (có lộ trình và bước đi thích hợp), nhanh chóng chuyển các hoạt động dịch vụ chủ yếu như điện, xăng, dầu, nước… sang cơ chế thị trường theo tinh thần kết luận của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 2 khóa 13 (26/11/2011).

Quán triệt tinh thần đó, tác giả đã bổ sung, cập nhật, nâng cấp Đề án “Lấy thủy lợi nuôi thủy lợi và phát triển thủy lợi” (1991) thành Đề án “Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững ngành thủy lợi Việt Nam – Giai đoạn 2016 – 2025, tầm nhìn 2035”, mà một số vấn đề cốt lõi của nó được đề cập trong Báo cáo này.

Rất mong nhận được nhiều góp ý, phê bình của các chuyên gia, nhà quản lý và các vị quan tâm đến chủ đề này.

Kích vào đây để xem toàn bộ và chi tiết >>>

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê truy cập
myspace tracker
Total views: 103,888,219
Thăm dò ý kiến

Đánh giá của bạn về website?

Quảng cáo
Tin xem nhiều
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây