NHÂN NGÀY DOANH NHÂN VIỆT NAM 13/10/2016, CHIA SẺ ĐÔI ĐIỀU VỀ HÀNG HÓA NƯỚC

Thứ ba - 14/03/2017 01:44

“Lấy thủy lợi nuôi thủy lợi và phát triển thủy lợi” là ý tưởng đã nung nấu trong tôi từ đầu những năm 80 của thế kỷ hai mươi. Nó bắt nguồn từ sự quan sát hiệu quả kinh tế - xã hội rất to lớn, có tính đột phá của các hệ thống thủy lợi đã mang lại cho khắp các vùng miền trên đất nước. 
Bái Thượng (Thanh Hóa) và Đô Lương (Nghệ An) là hai công trình đã để lại dấu ấn sâu sắc trong những ngày đầu bước vào ngành thủy lợi của tôi (thời gian học lớp Sơ cấp Thủy lợi Bái Thượng, tháng 11/1954 – tháng 3/1955).
Được cử đi dự lớp bồi dưỡng về quản lý kinh tế (6 tháng) năm 1984 tại Moskva, trong bản khóa luận, tôi đã tổng hợp số liệu thống kê thực tế của 5 công trình thủy lợi Kẻ Gỗ (Nghệ Tĩnh), Yên Lập (Quảng Ninh), Núi Cốc (Bác Thái), Nam Thạch Hãn (Bình Trị Thiên), Phú Ninh (Quảng Nam – Đà Nẵng), chứng minh rằng thời gian hoàn vốn của 5 công trình này đều dưới 15 năm, và khẳng định: đầu tư cho thủy lợi có thể hoàn vốn trên thựn tế, để thực hiện tái sản xuất giản đơn và mở rộng (không cần phải áp dụng cơ chế “xin – cho” đối với ngành thủy lợi). Phó giáo sư hướng dẫn khoa học Zưkov V. M. rất thích thú về phát hiện có tính sáng tạo của bản luận văn.
Thực ra, chỉ chịu khó quan sát và suy ngẫm một chút là nhận ra cái cốt lõi của chân lý “nhất nước nhì phân tam cần tứ giống” mà ông cha ta đã đúc kết. Việc còn lại chỉ là tìm số liệu, diễn đạt vấn đề với một vài phép tính sơ cấp mà thôi! Và chính câu nói vui ngoài lề một cuộc họp của Thứ trưởng Vũ Khắc Mẫn vào giữa những năm 1980 đã để lại dấu ấn sâu sắc cho nhiều người, và góp phần thôi thúc tôi đi sâu nghiên cứu không ngưng nghỉ đề tài “lấy thủy lợi nuôi thủy lợi và phát triển thủy lợi bền vững” cho đến ngày nay: “Các cậu lắm khi phàn nàn ‘thủy lợi’ với ‘thủy hại’. Giả thử các công trình thủy lợi đều ngừng hoạt động, thử hỏi năng suất lúa bình quân có đạt nổi vài tấn/ha/năm không?”
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), trong bài tham luận đọc tại Đại hội, tôi đã khiêm tốn đề cập đến hiệu quả to lớn đóng góp của ngành thủy lợi cho nền kính tế quốc dân. Và rất vui, sau đó, trong một lần đi công tác Liên xô, trên chuyến bay từ Moskva trở về Hà Nội, tình cờ ngồi bên cạnh Đại sứ Việt Nam tại Mông Cổ, anh ấy tự giới thiệu: “Tôi đã biết tiếng anh qua bài tham luận tại Đại hội VI đã được trích đăng trên Báo Nhân Dân”. Vị Đại sứ cũng ca ngợi thành quả thủy lợi, không những là biện pháp hàng đầu trong nông nghiệp mà còn là mạch máu của nền kinh tế quốc dân.
Trong thời gian chỉ đạo đẩy mạnh tiền độ thi công công trình thủy lợi Thạch Nham (1987-1990), tôi thường gặp gỡ, trao đổi với lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi, chính anh Võ Trọng Nguyễn, phó bí thư thường trực tỉnh ủy đã cung cấp thông tin quý báu về cơ chế thủy lợi phí “tam - thất” và “tứ - lục” đã được thị trường Quảng Ngãi chấp nhận trước ngày đất nước thống nhất (1975). Cơ chế “tam – thất” áp dụng đối với loại hình tưới bằng đập dâng: cuối vụ thu hoạch, người cung ứng dịch vụ thủy nông hưởng 3 phần, người trồng lúa hưởng 7 phần. Cơ chế “tứ - lục” áp dụng đối với loại hình tưới bằng bờ xe nước (water-wheel): cuối vụ thu hoạch, chủ bờ xe nước hưởng 4 phần, người trồng lúa hưởng 6 phần. 
Cơ chế người làm dịch vụ tưới bằng bơm nước được hưởng 1/3 sản lượng thu hoạch cuối vụ (được chấp nhận rộng rãi ở các tỉnh Miền Nam trước 1975) thì tôi đã tiếp thu được từ cuối những năm 1970 (khi làm trưởng ty Thủy lợi Đak Lăk), và luôn ghi nhớ sâu sắc, thấm thía ý nghĩa của “bàn tay vô hình” đã nặn ra cơ chế giá dịch vụ thủy lợi theo cơ chế thị trường (rất có giá trị) này. Và nó lại được thức dậy trong những ngày hạp long đập Thạch Nham khi nghe Phó bí thư thường trực Võ Trọng Nguyễn trao đổi về cơ chế “tam–thất”, “tứ–lục” ở Quảng Ngãi.
Những năm 1988-1989, UBND huyện Diên Khánh , được Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa Võ Hòa duyệt cho thí điểm nâng mức thu thủy lợi phí lên 12% (không kể 2% cho phần nội đồng), có 6 xã thu mức 20%, không những khắc phục được tình trạng thiếu vốn duy tu vận hành các công trình thủy lợi đã xây dựng, mà còn tạo them nguồn vốn hố trợ cho các công trình xây dựng mới trong huyên. Tôi đã có báo cáo tổng kết thực tiễn “Lấy công trình nuôi công trình, lấy thủy lợi nuôi thủy lợi – Bài học kinh nghiệm của huyện Diên Khánh, Khánh Hòa”, báo cáo chuyên đề tại học viện Nguyễn Ái Quốc (lớp A2, 1989-1990), tháng 1/1990.
Điển hình “thu lấy mà chi” của Diên Khánh (Khánh Hòa) nổi lên trong tình hình cân đối ngân sách rất khó khăn (trong những năm cuối 1980, đầu 1990), liên hệ với cơ chế dịch vu thủy lợi 33%, hay “tam – thất”, “tứ - lục” từng tồn tại ở miền Nam trước năm 1975, tôi nhận thấy cần phải có một sự tháo gỡ về mặt cơ chế giúp các đơn vị quản lý thủy nông chủ động tài chính trong quản lý vận hành công trình, từng bước tiến tới mục tiêu bảo toàn và phát triển vốn cho ngành thủy lợi, nên đã đăng ký làm việc với Thứ trưởng Tài chính Hồ Tế (sau này là Bộ trưởng) về chuỗi giá trị “nước, phân, cần, giống” để hình thành nên giá trị sản phẩm cuối cùng của hạt thóc. Trong đó công đoạn “nước” đóng góp giá trị nổi bật, vì vậy thủy lợi phí phải phản ảnh giá trị tương thích. “Nước” có “giá trị” và “giá trị sử dụng” lớn như thế, không thể chấp nhận cơ chế “giá cả” bất cập đương thời.
Nối tiếp mạch tư duy kinh tế đó, tháng 6/1991, tôi đã bảo vệ thành công Luận án PTS kinh tế “Một số vấn đề về tái sản xuất vốn trong ngành thủy lợi ở Việt Nam” tại Đại học KTQD (chuyên ngành Tài chính lưu thông tiền tệ và tín dụng, Mã hiệu 5.02.09). Đó cũng chính là Đề án “Lấy thủy lợi nuôi thủy lợi và phát triển thủy lợi” của tôi. Trong đề án, 10 đặc điểm của hàng hóa nước và 10 hệ quả lần đầu tiên được đề cập và phân tích cụ thể, sâu sắc. Trong quá trình hình thành Luận án PTS kinh tế, tác giả đã cùng phối hợp trao đổi thống nhất nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn và các số liệu thống kê với các chuyên gia của Vụ Quản lý Khai thác công trình Thủy lợi, vì thế Luận án có tính thưc tiễn cao, được nhiều chuyên gia hàng đầu của Vụ đồng thuận. và đã từng bước đi vào cuộc sống thực tế. Bộ Thủy lợi và Vụ Quản lý khai thác công trình thủy lợi đã có văn bản nhận xét giá trị lý luận và thực tiễn của Luận án.
Văn bản nhận xét của Bộ Thủy lợi viết:
“…2. Luận án được nghiên cứu nghiêm túc và công phu, thể hiện trên các nội dung:
a) Vận dụng tài liệu tổng kết về công tác thủy lợi trong toàn quốc trước năm 1945 và từ 1945 đến nay, trong đó phân kỳ xây dựng thủy lợi thích hợp với sự phân kỳ xây dựng đất nước. 
Qua đó tác giả đã rút ra vị trí quan trọng của thủy lợi trong việc phát triển nông nghiệp và tình hình thu thủy lợi phí để rút ra 4 kết luận xác đáng về mức thu thủy lợi phí hiện nay.
b) Tác giả đã nghiên cứu về lý luận chung để vận dụng vào ngành Thủy lợi, và rút ra các đặc thù của hàng hóa trong ngành thủy lợi và xây dựng mô hình toán về quá trình sản xuất vốn.
c) Nêu ra 3 mô hình tái sản xuất đầu tư thủy lợi từ thấp đến cao (thực chất là một mô hình ở 3 mức độ).
Những mô hình nêu ra là đúng đắn về mặt lôgich và phù hợp với thực tế, đồng thời cũng phù hợp với những quan điểm đã đề cập trong Nghị định 112-HĐBT ngày 25/8/1984 về thủy lợi phí (xấp xỉ ở mô hình 1 và một phần ở mô hình 2, ngay việc tính đủ cả khấu hao cơ bản và có lãi thì trong NĐ 112 cũng đã đề cập, nhưng xét khả năng thực tế nên coi vốn đầu tư xây dựng ban đầu như đầu tư hỗ trợ nông nghiệp).
Những mô hình đó phù hợp với nội dung mà Bộ Thủy lợi đang soạn thảo để trình HĐBT và Quốc hội trong thời gian tới, tất nhiên không phải là giống nhau hoàn toàn.
d) Tác giả cũng đã đề ra 4 giải pháp chính để thực hiện. Trong 4 giải pháp đó, giải pháp 1 về đổi mới nhận thức và giải pháp 4 về tổ chức sắp xếp lại bộ máy sản xuất kinh doanh dịch vụ theo cơ chế hạch toán kinh doanh toàn ngành thủy lợi.
Đối với giải pháp 4. Bộ Thủy lợi cũng đang chỉ đạo khẩn trương, còn sơ đồ tổ chức bộ máy do tác giả nêu ra là một phương án nghiên cứu để so chọn.
Những vấn đề đó nói lên rằng luận án xuất phát từ yêu cầu thực tế đã được nghiên cứu nghiêm túc và hoàn chỉnh và có giá trị thực tiễn, với nội dung phù hợp với chủ trương của ngành thủy lợi đã và đang triển khai phù hợp với xu thế phát triển kinh tế của nước ta…”
Văn bản nhận xét của Vụ trưởng Vụ Quản lý khai thác công trình thủy lợi viết:
“Những nội dung mà đồng chí Trần Nhơn đã nêu ra trong công trình nghiên cứu tái sản xuất vốn trong ngành Thủy lợi ở Việt Nam cũng đã được đồng chí chỉ đạo Vụ chúng tôi nêu ra trong các cuộc hội thảo của ngành về đổi mới các hoạt động kinh tế thủy nông và trong hội thảo xây dựng chính sách thủy lợi phí mới; hướng dẫn các địa phương vận dụng vào điều kiện cụ thể của địa phương mình để kiểm nghiệm thực tế; trong quá trình hội thảo và trao đổi ý kiến cũng đã được đồng chí Bộ trưởng cho ý kiến chỉ đạo. 
Với chức năng của đơn vị Vụ Quản lý khai thác công trình Thủy Lợi chúng tôi có một số nhận xét:
1. Công trình nghiên cứu của đồng chí Trần Nhơn về tái sản xuất vốn trong ngành Thủy lợi là hoàn toàn phù hợp với quan điểm chuyển nền kinh tế từ bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường có điều tiết.
2. Phương pháp luận cũng xuất phát từ thực tiễn hoạt động của ngành mà đồng chí cũng là người vừa chỉ đạo, vừa tổng kết, đồng chí đã dùng các mô hình toán, tổng kết thực tiễn để đưa thành công trình nghiên cứu khoa học và các vấn đề được đặt ra là rất đúng đắn. 
3. Công trình nghiên cứu khoa học của đồng chí Trần Nhơn có tính khái quát hóa cao về đặc thù của ngành Thủy lợi để đề ra những giải pháp phù hợp thực tiễn trong tái sản xuất vốn của ngành. 
4. Quá trình nghiên cứu và tiếp thu thực tế trong hoàn cảnh của nước ta, đồng chí Trần Nhơn đã đề ra bước đi phù hợp trong thời kỳ quá độ. Từ đây, mà công trình nghiên cứu của đồng chí có sức thuyết phục cao. 
5. Giá sản phẩm của công trình kết cấu hạ tầng mà được tính giá bình quân đề điều tiết giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn; giữa năm thuận lợi và năm khó khăn mà đồng chí Trần Nhơn nghiên cứu đã giải quyết được sự gây cấn đối với công tác thủy lợi, đối với việc xây dựng và hoàn chỉnh các chính sách thủy lợi. 
6. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí về một số kiến nghị của đồng chí đối với nhà nước, đối với ngành, để có bước đi thực hiện công trình nghiên cứu này.
Với công trình luận án này chúng tôi đề nghị:
1. Hội đồng chấm luận án cho phiếu đánh giá vào loại xuất sắc.
2. Tạo điều kiện và tác động để tác giả tiếp tục hoàn chỉnh nội dung luận án để có thể bảo vệ bậc cao hơn phó tiến sĩ, và ứng dụng thành tựu khoa học này vào thực tiễn…”

Mức giao kế hoạch thu thủy lợi phí năm 2005 (14 năm sau khi Luận án được bảo vệ thành công) của Bộ NN&PTNT 1500 tỷ đồng, tương đương 830.000 tấn thóc, chính là ứng với mức thu mô hình Ib trong Đề án của tác giả.
Cuối năm 1991, có dịp về thăm đập Đồng Cam, đi thực địa và làm việc với Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên Nguyễn Thiện Thuật, tôi giả trao đổi vui với vị Chủ tịch: “Phú Yên mình có một mỏ vàng lộ thiên tái sinh hàng năm, khai thác mãi không bao giờ cạn. Đó là thảm lúa vàng của cánh đồng Tuy Hòa mênh mông, nổi tiếng cả miền nam Trung bộ. Và thưa Chủ tịch, sản lượng vàng tái sinh được khai thác hàng năm đó có sự đóng góp 30% giá trị từ hệ thống thủy lợi Đồng Cam đấy ạ!”Chủ tịch Nguyễn Thiện Thuật cười, không phản đối, vì ông quá rõ cơ chế “tam – thất” đã rất thịnh hành ở miền Nam trước ngày thống nhất đât nước.
Tuy nhiên, khi cơ chế thủy lợi phí (có lý có tình) theo tinh thần Nghị định 112-HĐBT đang đi vào cuộc sồng ngày một nề nếp, thì đến năm 2007, Chính phủ ra Nghị định 154/2007/NĐ-CP 
"… miễn thủy lợi phí đôi với: các hộ gia đình, cá nhân có đất, mặt nước dùng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối..." và “Ngân sách trung ương đảm bảo kinh phí để cấp bù cho các đơn vị quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi tương ứng với số thuỷ lợi phí được miễn”.
Nghị định này đã phá bỏ một nét đẹp, đã thành truyền thống, thành tập quán phù hợp với cơ chế thị trường: "người dùng sản phẩm hàng hóa nước phải trả tiền dịch vụ sòng phẳng". Chủ trương này đã dẫn đến tác động tiêu cực mà nhiều chuyên gia đã nhìn thấy trước. Môt vị nguyên Phó cục trưởng Cục Thủy lợi than thở: đã gửi thư kiến nghị Thủ tướng nhưng không nhận được hồi âm.
Tính đến nay, chín năm thực hiện chủ trương cấp bù Thủy lợi phí cho người trồng lúa, nhiều cán bộ quản lý cấp cao đã nhìn thấy các mặt bất cập bộc lộ rõ ràng.
Đã đến lúc dứt khoát từ bỏ cơ chế “xin - cho” (có lộ trình và bước đi thích hợp), nhanh chóng chuyển các hoạt động dịch vụ chủ yếu như điện, xăng, dầu, nước… sang cơ chế thị trường theo tinh thần kết luận của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 2 khóa 13 (26/11/2011).
“Lấy điện nuôi điện”, “Lấy hạ tầng nuôi hạ tầng” cũng là tinh thần mà Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khi còn làm Chủ tịch HĐBT đã từng nhắc nhở, quán triệt các cấp các ngành (từ cuối những năm 80 của thế kỷ 20).
Quán triệt tinh thần đó, năm 2015, tôi đã bổ sung, cập nhật, nâng cấp Đề án “Lấy thủy lợi nuôi thủy lợi và phát triển thủy lợi” (1991) thành Đề án “Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững ngành thủy lợi Việt Nam – Giai đoạn 2016 – 2025, tầm nhìn 2035”, sẽ được giới thiệu tóm tắt trong một dịp khác. 
Nước trong thiên nhiên (nước mặt, nước ngầm, nước trong khí quyển) là tài nguyên (tài nguyên đặc biệt, dễ bị tổn thương, không thể thay thế). Nước sau công trình (sản phẩm nước, sản phẩm của hoạt động thủy lợi) là HÀNG HÓA. Sản xuất kinh doanh hàng hóa nước, cung ứng dịch vụ nước - cấp nước, hạn chế tác hại của nước - phải được quản lý, tổ chức bảo đảm phát triển bền vững (tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, đạt hiệu quả kinh tế cao) thông qua xã hội hóa hoạt động thủy lợi:
1. Xã hội hóa hoạt động thủy lợi trước hết phải tách quản lý nhà nước về nước (thủy lợi) ra khỏi quản trị sản xuất thủy lợi. Nhà nước thực hiện quản lý thủy lợi bằng hệ thống pháp luật, bằng quy hoạch và chiến lược phát triển, bằng cơ chế chính sách điều chỉnh hoạt động bảo vệ tài nguyên nước, khai thác và tiêu dùng nước bền vững, có hiệu quả. 
2. Phải cơ cấu lại các tổ chức quốc doanh sản xuất thủy lợi theo hướng tước bỏ các hoạt động mang tính quản lý nhà nước, phát triển hạch toán như các doanh nghiệp khác.
Gắn với việc cơ cấu lại, phải tiến hành cổ phần hóa các công ty thủy lợi quốc doanh. Tùy tình hình, yêu cầu cụ thể mà xác định tỉ lệ phần vốn nhà nước thích hợp. 
3. Khuyến khích bằng cơ chế, chính sách để các tổ chức xã hội, tư nhân (trong và ngoài nước), bỏ vốn đầu tư vào thủy lợi, từ khai thác nguồn nước đến cung ứng dịch vụ nước, hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật và chính sách (tạo động lực, phát huy nội lực) của nhà nước.
4. Phải có cơ chế giá dịch vụ thủy lợi minh bạch, phù hợp với kinh tế thị trường thì mới thu hút các nguồn đầu tư xã hội. Với cơ chế hiện hành thì không thể thực hiện BOT, mà chỉ có thể thực hiện BOD (D là Die, nghĩa là chêt). 
Để xã hội hóa ngành thủy lợi thu hút các nguồn lực của xã hội đầu tư phát triển thủy lợi bền vững, trong tình thế hiện tại, cần đổi mới tư duy trên các điểm then chốt sau đây: 
1. Đối với xã hội, không được coi nước là vô hạn, là của trời cho, phải nhận thức các nguồn nước là tài nguyên quý và có hạn, nhất là trong tình trạng biến đổi khí hậu đang diễn ra như hiện nay.
Phải nhận thức dịch vụ cấp nước và hoạt động giảm thiểu tác hại của nước là thành phần trong các yếu tố vật chất thiết yếu tạo nên giá trị của dịch vụ. Vì vậy phải sử dụng nước có hiệu quả và tiết kiệm thông qua định giá sản phẩm hàng hóa nước hợp lý, khoa học: giá cả tương thích với giá trị và giá trị sử dụng. Số kinh phí hơn tám nghìn tỷ VNĐ (?) cấp bù thủy lợi phí hàng năm hiện nay không phải là lớn, nhưng nó đã làm triệt tiêu nội lực và động lực phát triển ngành kinh tế nước. Hãy dành số tiền cấp bù vô lối đó (và nếu có nguồn lực có thể nhân đôi, nhân ba lên!) dùng cho tài trợ, đầu tư thích đáng, đúng nơi, đúng chỗ vào các dự án điện đường trường tram (và các chính sách xã hội khác phù hợp với tính chất và mục đích của nó), phục vụ thiết thực,có hiệu quả cho nông nghiệp, nông dân nông thôn phát triển bền vững. Phải tách bạch chính sách phát triển kinh tế với chính sách an sinh xã hội. Người nông dân hiểu rất rõ đạo lý "ăn bánh phải trả tiền", "tiền nào của ấy", "dịch vụ nào giá cả ấy", "đánh nhau chia gạo, chào nhau ăn cơm". Các viên chức thiển cận, quan liêu đừng đánh giá thấp và xem thường dân trí Việt!
2. Về phía Nhà nước, phải xem xét thủy lợi là đối tượng điều chỉnh chứ không phải là công cụ của pháp luật, chính sách.
Ngành thủy lợi được đối xử công bằng như các ngành nghề khác trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động của ngành này (về địa giới phân chia, về cơ cấu tổ chức, về chính sách đặc thù…) phải phù hợp với tính kết cấu hệ thống của các lưu vực sông ngòi, nguồn nước chứ không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
Để phát triển thủy lợi bền vững, tất yếu phải xây dựng ngành thủy lợi theo hướng kinh tế thị trường. Xã hội hóa chính là quá trình phát triển mang tính quy luật của ngành này. (13/10/2016)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây