QUẢN TRỊ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC

Thứ sáu - 22/09/2017 04:02
GIẢ KIM HÙNG
Chi hội Miền Trung Hội Đập Lớn&PTNN VN
Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Trung Khánh Hòa

Đất nước bao la : từ Nam lên Bắc dài 5550 km, trải dài từ miền Á Nhiệt đới qua miền Ôn đới đến tận Hàn đới. Tây sang Đông rộng 5200 km, từ cao nguyên Tây Tạng nằm ở độ cao trên 5000 m đến miền duyên hải chỉ trên mực nước biển 1 – 2 m... Nguồn Tài nguyên Nước khá lớn về tổng lượng đứng hàng 6 toàn cầu sau Braxin, Nga, Canada, Mỹ và Indo. Nhưng lượng bình quân nguồn nước đầu người chỉ bằng ¼ lượng bình quân đầu người toàn cầu, vào loại nghèo về TNN. Tiềm năng thủy điện cũng đứng đầu thế giới với 67,6 tỉ MW, công suất có thể khai thác đến 37,8 tỉ MW. Nguồn TNN lại phân bố rất không đều theo vùng miền: miền Nam nhiều miền Bắt ít, miền Đông nhiều miền Tây ít. Diện tích đất canh tác nông nghiệp cũng rất có hạn, chỉ có 15,4% dt đất đai có thể canh tác, để nuôi sống trên 1 tỉ người với nền nông nghiệp còn lạc hậu, đòi hỏi đầu tiên là phải có nước tưới đồng thời phải phòng tránh các thiên tai do nước gây ra như hạn hán lũ lụt, diễn biến dòng sông cửa sông, và một “ thiên tai ” nữa cũng rất phổ biến ở TQ là xói trôi đất đai. Trong các triều đại phong kiến các trận hạn hán lũ lụt lớn đều là nguồn gốc sâu xa gây ra loạn lạc chiến tranh, triều đại nào muốn tồn tại thịnh vượng đều phải làm thủy lợi, để phát triển kinh tế, mở mang bờ cõi, ổn định xã hội, thống nhất quốc gia. Do vậy ngay từ những năm 30 thế kỷ trướcTQ đã từng coi “ thủy lợi là mạch máu của nông nghiệp” ( được ghi trong văn kiện hội nghị đại biểu công nông toàn quốc lần thứ 2 do Đảng Cộng sản TQ tổ chức tại vùng giải phóng ở Giang Tây, năm 1934 ). Sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mùng 1 tháng 10 năm 1949, TQ xác định lại rõ ràng hơn: “ thủy lợi là động mạch của nền kinh tế quốc dân ”, những năm gần đây đã coi “thủy lợi là mạch máu cho sự sinh tồn và phát triển của dân tộc Trung Hoa”. Để thực hiện các định hướng đúng đắn này, từ thời Trung Hoa Dân quốc, năm 1922 Chính phủ Dân quốc đã lập Uỷ ban sông Trường Giang, năm 1933 lập UB sông Hoàng Hà, năm 1947 lập Bộ Thủy lợi. Từ  tháng 10 năm 1949 Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời tiếp tục giữ Bộ Thủy lợi, năm 1958 lập Bộ Thủy lợi Điện lực nhưng đến năm 1988 phải tách Điện lực ra, để Bộ Thủy lợi thành một hệ thống quản trị quốc gia duy nhất về TNN từ trung ương đến địa phương (Ty, Sở TL...), là 1 trong 20 Bộ hiện nay của Chính phủ TQ, với 6 trọng tâm quản lý TNN được giao: (1)Tập trung kiểm soát tổng lượng, điều phối theo lưu vực và lãnh thổ hành chính, quản lý chặt việc lấy-dùng nước, điều độ thống nhất nguồn nước, đảm bảo các nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt, sản xuất và sinh thái cho cả thành thị và nông thôn, (2) Nâng cao hiệu quả dùng nước, xây dựng xã hội tiết kiệm nước, xây dựng ban hành các định mức dùng nước, (3) Quản lý khu công nghiệp có dùng nước, bảo vệ và quản lý kiểm soát vùng cấp nước sinh hoạt, bảo đảm an toàn nước ăn, kiểm soát tất cả các cửa ngõ thải nước rác bẩn vào sông, bảo vệ bền vững sinh thái dòng sông, ao hồ. Quản lý việc khai thác sử dụng nước ngầm…(4)Thống nhất quản lý TNN, cải cách thể chế quản lý TNN, kết hợp quản lý theo lưu vực với quản lý theo lãnh thổ hành chính, quản lý nhất thể hóa các sự vụ về nước ở thành thị và nông thôn, (5) Tăng cường kỷ cường quản lý khai thác bảo vệ phát triển TNN theo Luật Nước, xây dựng ban hành các tiêu chuẩn, quy phạm về  Quản lý Nước. Thanh tra kiểm soát việc cấp phép lấy nước dùng nước, việc sử dụng nguồn thu phí TNN, tình hình thực hiện xử lý nước, vật thải đổ vào sông ngòi, xử lý mọi hành vi lấy dùng nước trái pháp luật, phá hoại TNN, (6) Ứng dụng khoa học công nghệ cao, không ngừng nâng cao trình độ quản lý TNN, triển khai các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về TNN…, thích ứng với các điiều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu và các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội  của TQ.
    Đường lối và các chính sách quản trị Nước tập trung và khoa học như vậy, đã góp phần quan trọng để TQ nhanh chóng hạn chế và cơ bản khắc phục các thiên tai lớn do Nước gây ra như hạn hán, lũ lụt, lòng sông đổi thay, cửa sông diễn biến bất thường…, tạo cơ sở vật chất kỷ thuật để TQ từng được Uỷ hội Đập lớn thể giới (ICOLD) đánh giá là một “ cường quốc ” về xây dựng hồ đập, để ngành TL góp phần quan trọng cho TQ sớm trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ 2 sau Mỹ. Theo kết quả phúc tra lần thứ nhất về TL do Bộ TL và Tổng cục Thống kê tiến hành năm 2010 – 2012, TQ đã có 98 002 hồ chứa với tổng dung tích trên 932 tỉ m3, 46 758 nhà máy TĐ với tổng công suất lắp máy trên 332 triệu KW, đồng thời cũng xác nhận sự cần thiết của các dự án chuyển nước lưu vực trong đó có dự án “ Nam Thủy Bắc Điều” với tổng mức đầu tư khoảng 25 tỉ USD, công trình đầu mối từ hồ đập Tam Hiệp  trên sông Trường Giang có nhà máy TĐ quy mô lớn nhất thế giới, với 3 tuyến sông đào chuyển nước lên các tỉnh phía Bắc đã và đang thực hiện theo ý tưởng từ rất sớm của học giả-nhà cách mạng dân chủ Tôn Trung Sơn, trải qua sự ủng hộ của Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, dự án mà Ngân hàng Thế giới không đồng tình và kiên quyết không cho vay để thực hiện. Phúc tra cho thấy, dù Nhà nước rất coi trọng các vấn đề về TNN, đã đầu tư lớn đạt nhiều thành tựu về TL, nhưng ở một đất nước dân đông, TNN  có hạn, trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu ảnh hưởng ngày càng lớn, tiến trình công nghiệp hóa đô thị hóa ngày càng nhanh, vấn đề TNN đang có những phát sinh mới, những mâu thuẫn mới. Qua nhiều hội thảo khoa học về TNN có nhiều tổ chức quốc tế tham dự, TQ tiếp tục khẳng định : Kiên trì quốc sách tiết kiệm TN bảo vệ MT, giữ vững tư tưởng lấy Dân làm Gốc, chung sống với Thiên nhiên, khai thác Hợp lý Hiệu quả Tiết kiệm toàn diện, Trị thủy tổng hợp, Quản lý bền vững và Khoa học TNN để đảm bảo kinh tế xã hội phát triển bền vững. Bộ TL TQ tiếp tục tăng cường hoạt động thực hiện 5 yêu cầu AT về TNN được Nhà nước giao, là: (1) AT Nước ăn- (nước sinh hoạt), (2) AT Phòng lũ, (3) AT lương thực, (4) AT Cấp nước, và (5) AT Sinh thái.
Nhân Ngày Nước Thế giới lần thứ 25 năm nay ( 23/3/2017- với TQ là Tuần Nước TQ thứ 30 ) TQ đã để ra chủ trương “ Lục Hóa” : Tăng trưởng Xanh là xu thế phát triển bền vững, Chính phủ TQ cũng giao chức năng này cho  Bộ TL – Bộ Quản trị Nước chủ trì thực hiện, với các khẩu hiệu hành động rất dễ hiểu để thực hiện: “Tiết kiệm Nước trước Dẫn Nước sau, Chống ô nhiễm trước Thông Nước sau, Bảo vệ Môi trường trước Dùng Nước sau.” Gần đâyTrung ương Đảng và Chính phủ TQ đã có nhiều chỉ thị và hội nghị bàn về“Biện pháp thẩm tra chặt chẽ nhất chế độ quản lý các Nguồn TNN”, về “Tăng cường quản lý các công trình TL quan trọng trong việc cấp nước tiết kiệm nhất”, về “Đẩy mạnh  xây dựng các công trình TL lớn sử dụng Tiết kiệm Nước”… Ý thức Tiết kiệm nước đã thâm nhập vào từng nhà dân, đến cả từng phòng nghỉ ở tất cả các khách sạn từ 1 sao đến 5 sao !
   Tuy nhiên, với một đất nước rộng lớn, các nguồn TN kể cả TNN đều có hạn, trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu ảnh hưởng ngày càng nhiều, tiến trình công nghiệp hóa đô thị hóa ngày càng nhanh, vấn đề TNN cũng đang có những phát sinh mới, những yêu cầu mới, đòi hỏi sự nghiệp Quản trị Nước của TQ phải  “tích cực tiến hành cuộc cách mạng sản xuất và tiết kiệm năng lượng theo chỉ thị của Tổng Bí thư Tập Cẩm Bình tại hội nghị Tổ lãnh đạo kinh tài BCH TW Đảng CS TQ ngày 13 tháng 6 năm 2017.
     Người giới thiệu sơ lược về công tác Quản trị nước của TQ tin rằng Bộ THỦY LỢI TQ nhất định sẽ hoàn thành được nhiệm vụ mới mà Đảng và Chính phủ TQ giao.
 
Tài liệu căn cứ :
  1. Sách Thủy lợi Trung quốc, Bà Tiền Chính Anh
        nguyên Th trưởng Bộ TL TQ chủ biên,
     2. Các thông tin trên trang Web của Hội Đập Lớn  và Hội TL TQ
     3. Tài liệu thu thập tại Viện QHKSTKTL  Hoàng Hà  khi
       làm việc trong các năm 1997, 2005, 2012.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây